Blessed Virgin Mary

GIÁO TRÌNH THÁNH MẪU HỌC -- PART I

HỌC VIỆN THẦN HỌC LIÊN DÒNG NỮ
Mùa hè 2007

 Lm. Phêrô Lê Văn Chính

 DẪN NHẬP

Lạy Mẹ Maria.......

            Có cần phải viết thêm những gì vào tất cả những điều đã được viết về Mẹ chăng? Chúng con bắt đầu tìm hiểu về Mẹ cũng là Mẹ Thiên Chúa và Mẹ của nhân loại, nhưng tìm hiểu về Mẹ cũng là bắt đầu chiêm ngắm về công trình lớn lao của Thiên Chúa thực hiện cho nhân loại và cho mỗi người chúng con. Chiêm ngắm bởi vì đây là mầu nhiệm cao cả, khôn vời phát xuất từ tình thương bao la của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Chiêm ngắm vì đây là mầu nhiệm âm thầm, được thực hiện trong thinh lặng khiêm nhường, cần phải có sự lắng đọng của tâm hồn. Mẹ là người nữ thinh lặng nhất và cũng là người được ca tụng nhất và cũng là đề tài được tranh luận nhiều nhất. Ðơn giản vì Mẹ là người nữ mà nhờ đó Chúa của con đến với con. Mẹ là người nữ mà nhờ đó mọi chờ đợi, mọi cố gắng của con người cuối cùng được ban thưởng.

 Chúng con trong thân phận những người nô lệ, những người lạc loài tha hương trong trần thế, đã ao ước hạnh phúc, ao ước niềm vui. Và thế là Suối Nguồn hạnh phúc ập đến với chúng con. Chúng con không còn có thể sống một giây nào nữa trên trần thế này nếu như chúng con không được nối liền, từ thẳm sâu con người của chúng con với Cha của mọi nguồn sự sống, bởi vì chúng con không tự mình là nguồn gốc của mình. Chúng con đã nhận sự sống như là hồng ân, chúng con được mời gọi tin tưởng và biết ơn vì hồng ân sự sống này. Lần hồi, với thời gian dài theo năm tháng của cuộc đời, chúng con học biết đón nhận sự hiện diện và lời mời gọi của Ðấng thân mật với chúng con hơn là chính chúng con, của Ðấng ở trong chúng con sâu xa hơn của chúng con biết chính mình. Trong dòng sông đang lặng lẽ trôi, trong cơn gió thoảng êm đềm, trong bàn tay đưa ra vẩy gọi của người lạ, trong nụ cười của trẻ thơ, trong đau khổ tột cùng của người vô tội, chúng con bắt đầu chiêm ngưỡng mầu nhiệm của Sự sống đang trao ban và lần hồi khám phá khuôn mặt của Ngài, Lạy Chúa. Thật, chúng con thật bất xứng, thật thấp hèn, thật yếu đuối nhưng chúng con lại được mời gọi giao ước với Chúa, sống tuơng quan thân tình với Chúa. Ðó cũng là vì, trước hết chính Chúa đã yêu mến chúng con.

             Chính Chúa đã đến với chúng con trong thân phận con người của chúng con, Ðức Giêsu Nazarét. Với cuộc sống và cái chết, cuộc phục sinh của Chúa, Chúa dạy chúng con về Thiên Chúa và về chính chúng con. Nhờ đó công trình tạo dựng được soi sáng ở tận ngọn nguồn, và chân trời tương lai của mọi loài thụ tạo của chúng con cũng nhờ đó được định hướng. Chính sự chết cũng đã được biến đổi, nó trở nên cuộc Vượt qua được trao hiến cho chúng con. Bởi vì Hồng ân trao ban không bao giờ ép buộc, hoạt động của ân sủng Chúa luôn vẫn là lời mời gọi ngỏ với cõi lòng của chúng con. Nếu như thế giới và con người hiện hữu, thế giới và con người được mời gọi nhìn nhận sự hiện hữu của mình như là hoa trái của một tình yêu, và tình yêu thì bao giờ cũng muốn gặp gỡ, gặp gỡ giữa người yêu và người được yêu. Bởi vì Ðấng vốn là Tình yêu vĩnh cửu không chỉ bằng lòng với hạnh phúc của chính mình trong lòng Ba ngôi vĩnh cửu, nhưng chính Ngài đã muốn kết hợp vào tình yêu vĩnh cửu này của Ba ngôi một loài thụ tạo được tạo dựng từ hư vô. Vậy lời ngỏ của tình yêu đã được cất lên và chờ đợi lời đáp trả vọng lại, lời đáp thưa vâng được Ngài chờ đời. Ngài đã gửi Thánh Thần để thúc đẩy một loài thụ tạo đáp trả tiếng thưa vâng ngọt ngào nhưng không kém mãnh liệt để làm cho từ trần thế này chỗi dậy từ đêm đen sự chết.

             Thiên Chúa là Tình yêu và Tự do đã tạo dựng thời gian để loài người chúng con đón nhận niềm vui được sinh hạ. Nhưng trong lòng thời gian, chính Ngài đã chuẩn bị và gặp được điểm đến của sự vĩnh cửu của Ngài. Thiên Chúa có thể làm được mọi sự, chỉ trừ điều Ngài không thể làm được, đó là ép buộc người khác phải yêu. Nếu chúng con hiện hữu đây, trên trần gian này và trong thời gian, trong nỗi vui nỗi buồn, chúng con nhận thức được rằng trước hết chính Chúa đã ước muốn thông chia hạnh phúc vĩnh cửu cho chúng con và không ngừng thúc đẩy chúng con đi đến với hạnh phúc vĩnh cửu này. Bởi vì hạnh phúc thật, tình yêu thật thì đòi hỏi tự do thật. Vì thế chúng con hiểu rằng trong lòng cuộc sống nhiều xao động, Chúa vẫn không ngừng âm thầm thúc đẩy lời đáp trả tình yêu trong lòng chúng con, lời đáp trả tình yêu sẽ dẫn đưa chúng con đến bến bờ hạnh phúc bất tận. Lời đáp trả tình yêu này cũng là lời bập bẹ yếu ớt, vụng về ngỏ lời với Thiên Chúa, Ðấng chúng con không nhìn thấy: « Này đây là tôi tớ Chúa, xin hãy thành sự cho tôi theo lời Ngài“.

             Một loài thụ tạo đã nhận lời mời gọi tình yêu của Ðấng cao cả, đã phản ảnh sự sáng chói chang của tình yêu Ba ngôi. Không có sự trong suốt của tiếng thưa vâng của Mẹ, thì không bao giờ Thiên Chúa cao cả và tuyệt đối tôn trọng tự do, có thể đến để chia sẻ đời sống con người của chúng con. Và chúng con đây, những con người yếu hèn, không thể hiểu nổi mọi chiều sâu của mầu nhiệm sự sống của tình yêu vĩnh cửu vốn là ngọn nguồn của sự sống bất tận. Vì thế, chúng con cố gắng thử diễn tả cách vụng về chút nào về Mẹ cũng là về mầu nhiệm sự sống và tình yêu của chính Thiên Chúa được trao ban. Amen

           

Chúng tôi đã bắt đầu phần giới thiệu về giảng khóa Thánh mẫu học này với lời cầu nguyện thật cảm động và chất chứa nhiều ý tưởng thần học thật hay của cha Cabbes, người đã hướng dẫn chúng tôi vào công trình nghiên cứu về Ðức Maria trong thời gian chúng tôi theo học tại Toulouse. Thực vậy, Thánh mẫu học là đề tài nghiên cứu trong thần học, bởi vì Ðức Maria chiếm một chỗ đứng thực đặc biệt trong công trình cứu chuộc, hiệp thông với Ðấng cứu thế cách đặc biệt, đồng thời là mẫu gương đức tin hoàn hảo của Giáo hội và của mỗi người tín hữu.

Vì chiếm một chỗ đứng đặc biệt trong công trình cứu chuộc, nên nói về Ðức Maria là nói về Thiên Chúa và nói về con người, về công trình cứu chuộc, về mầu nhiệm sự sống, về tình yêu, về tự do, về lời mời gọi đầy ân tình của Thiên Chúa, lời mời gọi đến với sự sống của Thiên Chúa và sự đáp trả từ phía con người. Về công trình cứu chuộc, bởi vì nhân loại được tạo dựng cách kỳ diệu bởi sự khôn ngoan của Thiên Chúa, Ðấng toàn năng cao cả, Ðấng hằng sống, Ðấng hoàn toàn vượt trên con người. Công trình tạo dựng này còn hướng đến việc cứu chuộc, tức là việc đưa con người, từ thân phận thụ tạo của mình, được hiệp thông sự sống với Thiên Chúa toàn năng.

Nói đến hai công trình chính yếu này là tạo dựng và cứu chuộc, cần nhấn mạnh trước hết tới ý tưởng về sự cao cả của Thiên Chúa và thân phận thấp hèn của con người. Con người cần nhận thức sự cao cả ngàn trùng của Thiên Chúa và thân phận thụ tạo, khả tử của mình. Dù con người có văn minh, hiểu biết cách mấy, con người vẫn phải đối diện với thách đố lớn nhất là sự chết, sự hữu hạn của chính mình. Và do bởi sự hữu hạn này, con người cần lắng nghe lời mời gọi đầy yêu thương của Thiên Chúa đang mời gọi con người hiệp thông sự sống với Ngài. Ðược hiệp thông sự sống với Thiên Chúa là một hồng ân lớn lao mà con người cần phải nghiêm chỉnh thực hiện trong cuộc đời của mình, bởi vì do bởi thân phận con người, tất cả những gì mình có được cũng là do Thiên Chúa ban tặng. Ðức Maria đã hiểu rõ điều đó và Người đã đón nhận cách hoàn hảo trong cuộc đời mình hồng ân cứu chuộc của Thiên Chúa. Chính mẹ là người giới thiệu Chúa cứu thế cho nhân loại và dẫn đưa nhân loại đến cùng Chúa cứu thế.

Nói đến công trình tạo dựng và cứu chuộc cũng là nói đến mầu nhiệm sự sống, đến tình yêu, đến tự do và đến sự đáp trả của con người. Thiên Chúa là Ðấng toàn năng và cao cả, vĩnh cửu, nhưng sự toàn năng và vĩnh cửu của Ngài không phải là của một kẻ độc tài, độc đoán nhưng là của một Thiên Chúa tình yêu. Công trình tạo dựng và cứu chuộc được thực hiện với tất cả tình yêu tha thiết, ân cần của Thiên Chúa tình yêu, và vì thế cũng đòi hỏi phía con người tình yêu trọn vẹn, tự do trọn vẹn để đón nhận những hồng ân lớn lao này. Sự toàn năng, Tình yêu và tự do là những chiều kích quan trọng nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa toàn năng vô cùng nhưng cũng yêu thương vô cùng và cũng tự do vô cùng. Càng là Ðấng toàn năng Ngài càng yêu thương, Ngài càng tự do, nghĩa là Thiên Chúa trao ban tất cả tình yêu và sự sống của Ngài cho con người mà không đòi hỏi gì từ phía con người, và để đáp lại cho cân xứng tình yêu của Thiên Chúa, con người cũng không lấy gì để trao đổi cho cân xứng cho bằng tình yêu và sự tự do ưng thuận của mình. Thế nhưng nói đến tình yêu và tự do cũng là nói đến những đòi hỏi, càng là tình yêu thì càng đòi tự do và càng có tự do mới chứng tỏ là tình yêu chân thực. Từ nay, mỗi người được mời gọi đáp lại tình yêu Thiên Chúa để thực hiện trong chính cuộc đời mình ơn gọi cao cả của mỗi người hiệp thông vào sự sống thần linh.

 

CHƯƠNG NHẬP ĐỀ  -  Drexel, S.J
Giáo hoàng học viện Piô X Ðà Lạt

Trước khi bàn xét từng chân lý trong thiên khảo luận về Ðức Trinh nữ, ta nên có một cái nhìn lịch sử tổng quát về Thánh mẫu học qua các thế kỷ. Sau đó, thêm vài so sánh để thấy rõ mối liên lạc  giữa Thánh mẫu học công giáo và phong trào hiệp nhất. Sau cùng sẽ trình bày vài vấn đề mới đây, đã gây nhiều tranh luận trong giới thần học.

Lịch sử ngành Thánh mẫu học

- Thời Thượng cổ : Thánh Mẫu học của các giáo phụ trong mấy thế kỷ đầu đặt nền tảng trên các dữ kiện Thánh kinh. Có hai chân lý nổi bật là : Maria, Mẹ Thiên Chúa và Maria đồng trinh. Chính vì thế, mà hai đặc ân đó đã được thấy trong các tuyên xưng đức tin cổ . Ngay từ thế kỷ thứ ba, hai tiếng « Theotokos » (Mẹ Thiên Chúa) và « aei-parthenos » (luôn trinh khiết) diễn tả niềm tin chung của Giáo hội Ðông phương rồi đến Tây phương. Các tước hiệu đó xuất hiện trong công đồng bắt đầu từ thế kỷ V.

Nơi một vài giáo phụ, Thánh mẫu học còn mang những khía cạnh khác, chẳng hạn như sự song đối giữa Evà và Mẹ Maria, đối xứng với sự song đối giữa Adong và Chúa Giêsu (nhất là với thánh Irênê). Hơn nữa, đâu đâu người ta cũng ca tụng sự thánh thiện của Mẹ Maria. Sự tôn kính Ngài chắc chắn cũng phải phát triển song song. Chúng ta tìm được những dấu vết ngay từ thế kỷ thứ hai, và nhất là thế kỷ thứ ba trong các bức họa ở hầm mộ. Ðến cuối thời các thánh giáo phụ, vấn đề thăng thiên của Mẹ Maria cũng đã được đặt ra.

- Thời Trungcổ : Người ta có thể phân biệt được hai trào lưu : giáo lý và sùng kính. Trong các Ðề kiến thư và Tổng luận (Sentences et Sommes) thần học, người ta đã thấy phôi thai một thiên khảo luận thần học về Mẹ Maria, nhưng hầu như luôn luôn được xen vào trong kitô học, chẳng hạn như trong cuốn Tổng luận thần học của thánh Tôma (S.Th. 3.26-35). Cũng thế Suarez nối kết học thuyết về Ðức Trinh nữ với những mầu nhiệm  của đời Chúa Kitô (Tranh luận 1-23). Liên kết như thế là rất tự nhiên vì Ðức Maria là Mẹ của Chúa Kitô. Trong các Phúc âm, những điều nói về Mẹ Maria thường cũng đuợc nói vì có liên lạc với Chúa Kitô. Hiếm khi mới gặp thấy trong các sách biệt lập như tập « Mariale », được gán cho thánh Albertô từ lâu đời, nhưng có lẽ là thuộc một tác giả khác, thế kỷ 13. Giáo lý trong các sách đó thường lại rất đơn sơ.

Bên cạnh thần học, còn bùng nổ lòng tôn sùng Ðức Mẹ vào thế kỷ 12 và tiếp tục trong các thế kỷ sau. Có những thánh đường, đền thờ, tu hội được dâng hiến cho Ðức Mẹ. Những kinh phụng vụ thường được đặt ra. Kinh « Kính mừng » được thêm vào sau kinh « Lạy Cha ». Các nhà giảng thuyết và các nhà chiêm niệm đã đóng góp vào phong trào này không ít.

- Thời Tin lành : Cần lưu ý là những người « cải cách » thế kỷ 16 không hề đả kích Ðức Mẹ cũng như sự tôn sùng Ngài. Luther, chẳng hạn, đã viết những đoạn cảm động về ÐứcTrinh nữ. Bàn về Ðức Mẹ đi thăm viếng bà Êlisabét, ông đã gọi Ðức Mẹ là « Bà cao vượt trên trời dưới đất », « là người nữ được nâng lên trên mọi người nữ, trên cả loài người ». Năm 1533, ông tuyên bố « không thể nào ca ngợi tạo vật Maria cho đủ được ». Trong cuốn « Exposition du Magnificat », ông viết : « Còn gì đẹp lòng Mẹ Maria hơn là việc người ta nhờ Ngài dẫn đến cùng Thiên Chúa và học nơi Ngài gương tin cậy ». Calvinô dè dặt hơn, nhưng ông cũng không phê bình đấng mà ông gọi là « Nữ Trinh dịu hiền ». Do đó Công đồng Trentô hầu như im lặng về Thánh Mẫu học. Công đồng chỉ quả quyết thoáng qua rằng Mẹ Maria đã được giữ gìn khỏi mọi tội nhẹ và, cùng với các thánh, Ngài bầu cử cho chúng ta. Ở chỗ khác, công đồng cũng ám chỉ đến sự Ngài được bảo toàn khỏi tội nguyên tổ.

Nhưng rồi bỗng chốc, học thuyết của Giáo hội công giáo về Mẹ Maria và sự tôn kính Ngài trở thành mục tiêu cho người Tin lành công kích. Họ cho đó là một sự hạ giá Chúa Kitô. Ðó là thái độ của Tin lành cho đến thế kỷ 20 và ngày nay niềm ác cảm đối với Thánh Mẫu học vẫn còn ăn rễ sâu trong nhiều tâm hồn. Về phiá công giáo, ngược lại, Thánh Mẫu học lại phát triển mãnh liệt hơn. Thánh Mẫu học trở thành một thiên khảo luận biệt lập với Kitô học và Giáo hội học. Văn chương về Ðức Mẹ, tín lý cũng như tu đức, phát triển rộng lớn. Ðó là công trình của Ðức Hồng y Bérulle (+1629), thánh Louis Marie Grignon de Montfort (+1716) và thánh Alphonse de Ligori cùng với muôn người khác, đã góp công rất nhiều trong việc đào sâu sự tôn kính Ðức Maria.

- Những sự can thiệp của Giáo quyềnTuyên huấn

Với việc định tín về ơn vô nhiễm nguyên tội do Ðức Piô IX vào năm 1854, một yếu tố mới góp vào việc phát triển Thánh Mẫu học. Từ đo, chính các Ðức Giáo hoàng không ngừng trình bày và hướng dẫn học thuyết đó. Ðó là thái độ của các Ðức giáo hoàng và thái độ đó đã đi tới tột điểm dưới thời Ðức Piô XII. Việc định tín về ơn Mông triệu thăng thiên mà không do một cuộc tranh luận nào thúc bách, là một sự tin kính của Giáo hội đối với Ðức Maria. Sau 4 năm, tiếp đến thông điệp « Ad caeli reginam » (11-10-1954) liên kết Ðức Maria với vương quyền của Chúa Kitô và tôn xưng Ðức Maria là « Ðấng cộng sự hào hiệp của Chúa Cứu thế » (Generosa Redemptoris socia). Trong khoảng thời kỳ này cho tới công đồng Vatican II, những việc nghiên cứu thần học về Ðức Maria tăng cường mạnh mẽ. Những vấn đề chính yếu là ba vấn đề này : thế nào là mối tương quan giữa Thánh Mẫu học hiện đại với đức tin thời các thánh Tông đồ ? Ðâu là địa vị của Ðức Maria giữa những người được cứu chuộc và đối với Giáo hội ? Ðâu chính là mối giây liên kết giữa Ðức Maria và Chúa Kitô ? Bên cạnh những vấn đề tổng quát này còn có những vấn đề riêng biệt được đề cập, ví dụ, vấn đề trung gian của Ðức Maria vào việc cứu chuộc, và vấn đề chức mẫu tử thiêng liêng của Mẹ. Tóm lại, những vấn đề này nằm trong luận đề thứ hai và luận để thứ ba đã kể trên. Văn chương về Ðức Maria trở nên rất phong phú. Nhiều hội các nhà thần học chuyên nghiên cứu về Ðức Maria đã được thành lập trong nhiều quốc gia (ở Ý, Pháp, Ðức, Tây ban nha, Hoa kỳ). Nhiều đại hội học hỏi về Ðức Maria đã được cử hành và nhiều đại học chuyên về Thánh Mẫu học đã được thiết lập. Trên đây là tình hình cho tới đầu công đồng Vatican II.

- Thánh Mẫu học trong công đồng Vatican II

  1. a) Trong những năm trước công đồng, người ta có thể phân biệt hai khuynh hướng giữa các nhà thần học. Một số nghiên cứu Thánh mẫu học, đặc biệt liên kết với Kitô học và Cứu thế học : Ðức Maria là Mẹ Chúa Cứu thế, là Ðấng cộng sự của Người trong công cuộc cứu chuộc, là Evà đệ nhị bên cạnh Adong đệ nhị. Như thế, Ðức Maria phục vụ sứ mệnh của Chúa Kitô và sứ mệnh cứu rỗi. Một số khác đúng hơn đã đặt Ðức Maria về phiá nhân loại được cứu chuộc ; Ngài có tương quan đặc biệt với Giáo hội mà Ngài là phần tử tiên khởi và cao trọng hơn hết. Vai trò của Ngài đúng hơn có tính cách thụ động. Như thế, Maria học thuyết phải được thâu tóm lại trong điều căn bản và việc sùng kính Ngài cũng phải được thâu hẹp. Hai khuynh hướng này, theo một nghĩa nào đó, đã được thành hình trước do chỗ đứng mà người ta đã dành cho Thánh mẫu học trong thần học tín lý. Phần lớn các tác giả liên kết khảo luận này với khảo luận kitô học, một vài tác giả khác, vào khảo luận Giáo hội học.
  1. b) Trong công đồng, hai khuynh hướng này đã được chú ý. Câu hỏi đã được đặt ra : phải đề cập đến học thuyết về Ðức Maria không ? Phải có một tuyên ngôn riêng biệt về Ðức Maria, hay tốt hơn nên cho Thánh mẫu học thuyết vào lược đồ về Giáo hội ? Có hai lý do bênh vực giải pháp sau : Ðức Maria đóng một vai trò quan trọng trong Giáo hội và những người Tin lành sẽ chấp nhận một cách dễ dàng hơn tín điều về Ðức Maria nếu nó được trình bày một cách liên kết với Giáo hội. Người ta thấy rõ ảnh hưởng của phong trào Ðại kết (œcuménisme)muốn tránh tất cả những gì có thể làm phật lòng những người có những lập trường khác nhau. Những ý kiến ở Công đồng chỉ hơn thua nhau lối 40 phiếu : 1114 phiếu tán đồng cho vào lược đồ Giáo hội, 1074 phiếu đồng ý có một tuyên ngôn riêng biệt. Ý kiến sau có điểm bất lợi này là bản tuyên ngôn riêng rẽ này phải khá vắn tắt ; có lẽ người ta không biết đặt nó ở đâu, trong đoạn văn nào, bởi vì không có những lý do đặc biệt để đề cập toàn thể tín điều về Ðức Maria, vả lại, sự liên kết với Giáo hội bị ngăn trở, bởi vì Ðức Maria có một chỗ đứng thật sự và một vai trò đặc biệt trong Giáo hội. Một số người nghĩ rằng kết quả thâu lượm được sẽ hạ giá Ðức Maria về phương diện hoặc học thuyết hoặc thờ phượng. Nhưng điều này không nhất thiết phải xảy đến. Ðức Phaolô VI, trong bài diễn từ của ngài vào dịp kết thúc khoá thứ ba, đã nhấn mạnh rằng đây là « lần đầu tiên một công đồng chung trình bày một tổng hợp rất rộng rãi học thuyết công giáo về địa vị mà Ðức Maria rất thánh chiếm giữ trong mầu nhiệm của Chúa Kitô và của Giáo hội. Thật vậy, chương thứ VIII xuất hiện như là « tột đỉnh và hoàn thành của Hiến chế về Giáo hội » (Ðức Phaolô VI).

Công đồng không muốn trình bày những học thuyết hay những khẳng định mới lạ. Công đồng cố gắng nêu ra những điểm trong học thuyết Maria đều được mọi người chấp nhận. Kết quả là phát sinh một nền tảng học thuyết rộng rãi và vững chắc và một sự chỉ đạo vững chắc cho tương lai. Người ta cẩn thận không bỏ qua cái gì mà Thánh mẫu học đã thâu lượm được như là điều chắc chắn. Ðồng thời, người ta không muốn làm phật ý những anh em ly khai, nhất là những người Tin lành. Người ta chú ý đến phong trào Giáo hội học, hợp nhất và thánh kinh.

  1. c) Sự tuyên xưng Ðức Maria là Mẹ Giáo hội

Trong bài diễn văn bế mạc khóa ba (21-11-1964), Ðức Phaolô VI đã quan tâm bổ túc Hiến chế của Công đồng trong khi tuyên bố Ðức Maria là « Mẹ của Giáo hội ». Mặc dù công đồng đã không đá động đến tước hiệu này, nhưng Ðức Giáo hoàng đã muốn tuyên bố điều đó không phải vì những lý do cá nhân, nhưng để kiện toàn học thuyết Maria và để đánh tan cảm tưởng là công đồng như có vẻ giảm bớt tầm quan trọng của Ðức Maria : « Ta mong rằng việc công bố Hiến chế về Giáo hội được kiện toàn bởi sự tuyên dương Ðức Maria là Mẹ Giáo hội, nghĩa là Mẹ của mọi tín hữu và mọi đấng chăn chiên, làm cho tín hữu cầu khẩn với Mẹ thánh cách tin cẩn và sốt sắng hơn ». Ðức giáo hoàng tuyên bố Ðức Maria xứng đáng chiếm chỗ thứ nhất sau Chúa chúng ta trong Giáo hội. Mặc dầu Ngài thuộc về Giáo hội, nhưng Ngài cũng ở trên Giáo hội, nhất là với tư cách là Mẹ Giáo hội.

  1. d) Lại nữa, trước khi công đồng kết thúc, Ðại hội Thánh Mẫu học ở Saint Domingue (tháng ba năm 1965) đã được cử hành. Ðề tài được nhắm tới là : Ðức Trinh nữ và thánh kinh, đối thoại giữa các nhà thần học và các nhà chú giải thánh kinh để đào sâu kiến thức học thuyết công giáo chân chính về Ðức Maria. Sự kiện này chứng tỏ rằng những sự học hỏi về Ðức Maria không có bị đình chỉ, cũng không có thật sự trì hoãn, mặc dầu có một sự dè dặt nào đó của chương về Thánh Mẫu học trong Hiến chế về Giáo hội. Thật vậy, nhiều vấn đề thuộc Thánh mẫu học cần được làm sáng tỏ hay đào sâu hoặc bên trong học thuyết công giáo, hoặc nhắm đến việc đối thoại với những giáo phái kitô giáo khác (Tin lành và chính thống).[1]

  Thánh mẫu học và hợp nhất

            Trái với Giáo hội công giáo, anh em Tin lành đã coi thường khoa Thánh mẫu học trong nhiều thế kỷ. Hình như đối với họ thì giáo thuyết Phúc âm và vai trò quan trọng của Chúa Giêsu Kitô sẽ bị lu mờ bởi giáo thuyết và sự sùng kính Ðức Maria. Từ sự kiện đó một số người công giáo đã chống lại tất cả những định thức mới về các đặc ân của Ðức Maria, họ còn muốn thu hẹp lòng sùng kính bề ngoài đối với Mẹ Maria ; Theo họ, không nên nói tới một số chân lý về Ðức Mẹ như vô nhiễm Nguyên tội, lên trời, vai trò trung gian của Ðức Mẹ …. như vậy việc đối thoại với anh em Tin lành sẽ dễ dàng hơn.

Những người công giáo trên mặc dầu có ý hướng tốt nhưng phương pháp của họ sai lầm, phải loại bỏ. Ðó là giải pháp hóa giải sai lầm. Giáo hội không thể bỏ một chân lý mạc khải nào cũng như một sự sùng kính chính đáng nào phát xuất cách tự nhiên từ những giáo thuyết mạc khải. Ðối thoại với những người bất đồng quan điểm có mục đích để hợp nhất các Giáo hội. Sự hợp nhất này chỉ có thể được thực hiện trên nền tảng của đức tin toàn vẹn trong Giáo hội công giáo. Mọi cuộc giàn xếp có thể là phản bội lại sự toàn vẹn của đức tin, vì thế Ðức giáo hoàng Piô XÌ đã cực lực phản đối khuynh hướng đạt tới hoà thuận sai lầm trên, vì là phương tiện không hợp với mục đích chúng ta muốn đạt tới : « Người ta đừng lao mình vào giải pháp hoà giải sai lầm và đừng tưởng rằng những người bất đồng ý kiến và những kẻ đang ở trong lầm lạc đó có thể trở về cách sung sướng trong lòng Giáo hội, vì chân lý toàn vẹn, như ở trong Giáo hội, phải được truyền thông cho hết mọi người cách không sai lầm và không giảm thiểu »[2]. Khoa thần học công giáo phải tránh đề cao quá đáng và đồng thời cả sự giảm giá trị giáo thuyết chân thật về Ðức Maria. Công đồng Vatican II đã khuyến cáo các nhà thần học và tất cả những người rao giảng lời Chúa khi họ đề cập đến địa vị độc nhất của Ðức Maria : « phải cẩn thận tránh mọi cách suy luận quá hẹp hòi… Hãy thận trọng trong lời nói, việc làm kẻo có thể đưa anh em ly khai và bất cứ ai hiểu lầm về học thuyết chân chính của Giáo hội » (LG 67).

Thánh Mẫu học của Giáo hội một khi được trình bày và cắt nghĩa cách hợp lý thì không thể là một trở ngại cho anh em Tin lành có thiện chí tìm hiểu chân lý. [3] Nhiều anh em ly khai lấy làm khó chịu khi thấy giáo thuyết về Ðức Maria tiến triển đáng kể trong Giáo hội công giáo. Sự kiện này không thể chối cãi được, và sự tiến triển đó là thành phần của truyền thống sống động. Những tài nguyên chứa đựng trong kho tàng đức tin được tỏ lộ dần dần với dòng lịch sử cứu rỗi. Nếu anh em Tin lành và Ðông phương ly khai đã nhận có sự tiến triển trong các tín điều như là một sự kiện do ý muốn củaThiên Chúa, thì khoa Thánh Mẫu học của công giáo không còn là việc cản trở họ.

Sự phân biệt những đặc ân của Ðức Maria

            Bên cạnh những tín điều quan trọng về Ðức Maria (như chức làm Mẹ, đồng trinh, vô nhiễm nguyên tội, hồn xác lên trời), còn có những đặc ân và những ơn phi thường khác nữa nơi Ðức Maria (như đầy ơn phúc, môi giới, chức làm mẹ thiêng liêng…). Ðể phán đoàn về những ơn khác nhau này các nhà thần học đã thiết lập một vài nguyên tắc. Những nguyên tắc này cũng có thể dùng để tránh quá đề cao hay giảm giá những đặc ân của Ðức Mẹ. Nhưng chúng không luôn luôn có cùng một giá trị, phải dùng chúng cách khôn ngoan và cân nhắc ; dưới đây là vài nguyên tắc :

- Phải hiểu về Ðức Maria tất cả những điều mạc khải về Ngài theo như Giáo hội đã hiểu, và còn phải nhận tất cả những gì quyền giáo huấn của Giáo hội dạy một cách chắc chắn về Ðức Trinh nữ Maria (ví dụ vương quyền của Mẹ Maria, Mẹ Maria là Mẹ Giáo hội, Giáo hội được Chúa Thánh Thần dẫn dắt cả khi Giáo hội trình bày những giáo thuyết không chính thức là mạc khải. Nguyên tắc này luôn luôn có giá trị.

- Phải qui về Maria tất cả những gì xứng hợp với Ngài xét theo bản thể của nó hay có liên lạc với Chúa Giêsu, vì Thiên Chúa ban cho cộng sự viên của Ngài, dụng cụ của Người tất cả những gì cần thiết để hoàn thành sứ mệnh cách xứng hợp. Việc áp dụng nguyên tắc này khá tế nhị « điều thích hợp » ở đây không rõ ràng ví dụ như : ta không thể suy diễn rằng Ðức Maria được ơn hưởng kiến trong khi còn ở trần gian từ việc người cộng tác vào công trình của Chúa Kitô. Thực thế chúng ta thấy rằng Ðức Maria đã đi con đường đức tin như chúng ta (x. Lc 1,45). Trái lại, người ta hiểu rằng Ðức Maria không có tình dục, vì đức trinh khiết toàn vẹn của người được chính Thiên Chúa kính trọng bằng những phép lạ.

- Một nguyên tắc khác : những ơn mà Thiên Chúa đã ban cho các thánh thì Người cũng ban cho Ðức Maria. Phải xác định : Thiên Chúa đã ban cho Ðức Maria những ơn xứng hợp với sự thánh thiện sung mãn của Người hoặc cần thiết cho nhiệm vụ của Người trong lịch sử cứu rỗi. Các thánh có thể được những ơn cần thiết hay rất hữu ích cho sứ mệnh của Ngài, mà không thấy có nơi Ðức Maria (ví dụ ơn biết các ngôn ngữ, chữa bệnh, biết các sự bí ẩn trong lòng người vv…) . Cũng thế Ðức Maria không có quyền chức linh mục.

- Còn phải qui về Ðức Maria những gì suy diễn từ cách thức và sự cộng tác của Ngài vào công cuộc cứu chuộc của Chúa Kitô. Nguyên tắc này dồi dào phong phú và đa dụng. Nó có nền tảng trong Stk 3,15 (Người nữ là người cộng tác với Ðấng cứu thế) và trong hai câu so sánh : Eva – Ađam và Maria-Giêsu. Trong khảo luận này, nguyên tắc trên sẽ được áp dụng nhiều lần (xem Neubert, Maria dans le dogme  trg 273-296).

Nguyên tắc nền tảng của Thánh mẫu học

            Ðức Maria đã được nhiều đặc ân và ơn huệ phi thường … một số đặc ân thật chắc chắn và hiển nhiên, còn một số khác còn phải khảo cứu thêm để xác định rõ ràng bản tính và phạm vi giá trị. Tuy nhiên những ơn này nhiều và khác nhau. Các nhà thần học đã tự đặt câu hỏi : trong những ơn khác nhau này Thiên Chúa có muốn cho có một hệ thống xác định rõ ràng : Giữa những đặc ân này có một ơn nào làm nền tảng do đó những ơn khác lần lượt được phát sinh cách mạch lạc không ? Một đặc ân nào đó, nếu có, có thể là nguyên tắc nền tảng của Thánh Mẫu học ! Như thế người ta có thể khảo sát trước tiên nguyên tắc đó, và tiếp đến có thể chứng minh làm sao mà có những đặc ân và ân huệ khác. Do đó người ta có thể có một tổng hợp hòa hợp tất cả giáo thuyết về Ðức Maria.

Các nhà thần học còn chưa đồng quan điểm về vấn đề này. Có người phủ nhận : không có một nguyên tắc căn bản như thế được : họ nghĩ rằng, nguyên tắc này không liên hệ gì đến hành động của Thiên Chúa là tác giả ban hết mọi ơn cho Mẹ Maria ; hơn nữa Ðức Mẹ lại được nhiều ơn rất khác nhau. Có nhà thần học khác, trái lại, dựa vào sự khôn ngoan của Thiên Chúa, là Ðấng trong mọi việc đều có chương trình, và luôn hành động theo trật tự.

Dầu vậy, ngay cả những người đồng ý là có một nguyên tắc căn bản như thế, cũng không đồng quan điểm khi phải xác định xem nguyên tắc này thực tế là gì : hoặc là chức làm Mẹ Thiên Chúa của Ðức Maria ? hoặc là chức làm Mẹ chung mọi người ? hoặc việc đồng công cứu chuộc với Chúa Kitô, hay chính sự kiện Mẹ Maria là khuôn mẫu của Giáo hội ? Người ta có thể gặp thấy hằng tá những ý kiến khác nhau. Có nhiều tác giả lại đúc kết hai đặc ân của Ðức Mẹ để làm một nguyên tắc căn bản, ví dụ chức làm Mẹ Thiên Chúa và Mẹ thiêng liêng của Ðức Maria, hay Ðức Maria là Mẹ Chúa cứu thế và là đấng cộng tác với Chúa cứu chuộc.

Những ý kiến khác nhau như thế chứng tỏ cho tới bây giờ tuy đã cố gắng nhưng vẫn chưa có một giải quyết náo thỏa đáng. Vả lại thánh mẫu học vẫn còn chưa hoàn tất. Còn chưa xác định được một vài ân huệ hay đặc ân của Mẹ Maria. Vì thế còn phải đợi để có thể lập thành một nguyên tắc duy nhất thỏa đáng, nếu là có một nguyên tắc như thế ; tuy nhiên điều đó cũng chưa chắc. [4]

TRONG LÒNG MẦU NHIỆM

                                                      Lm. Cabbes, dòng đan tu Cát minh

« Maria là suối nguồn, Maria là Mẹ dẫn đưa người tín hữu vào đời. Mẹ ở tận tâm điểm, ở ngọn nguồn của mọi thân phận nhân loại“. Trong phần dẫn nhập của tông huấn về việc tôn kính Ðức Maria, ngày 2 tháng 2 năm 1974, Ðức Phaolô VI đã xác định rằng  «việc tôn kính Ðức Trinh nữ Maria được kết hợp vào trung tâm của việc tôn thờ duy nhất đáng được gọi là kitô giáo - bởi vì chính từ Chúa Kitô mà việc tôn kính này rút ra nguồn góc và hiệu quả của mình, chính trong Chúa Kitô mà việc tôn kính này gặp được cách diễn tả trọn vẹn và chính là bởi Chúa Kitô mà trong Thánh Thần, việc tôn kính này dẫn tới Chúa Cha“. Vì thế, việc tôn  kính Ðức Maria là «một trong những yếu tố xác định phẩm chất lòng đạo đức đích thực của Giáo hội. Thực vậy, do bởi sự cần thiết thân mật, việc tôn sùng này phản ảnh trong thực hành của việc phụng tự chương trình cứu độ của Thiên Chúa: Ðức Maria đã có một chỗ đứng đặc biệt trong chương trình của Thiên Chúa thì Người cũng có chỗ đứng tương xứng trong phụng tự“.

 Phụng tự diễn tả đức tin của Giáo hội. Ðức Maria đã được tôn kính trong Giáo hội, việc tôn kính này diễn tả đức tin của Giáo hội. Thế nhưng việc tôn kính đặc biệt này dành cho Ðức Maria trong Giáo hội không thể làm chúng ta lạc xa khỏi đối tượng duy nhất của việc tôn thờ của chúng ta là Tình yêu đối với Thiên Chúa tạo dựng là Ðấng đã cứu độ chúng ta bằng chính Con một yêu dấu của Người là Ðức Giêsu Kitô. Thực vậy, Giáo hội khi tôn kính Ðức Maria, vẫn luôn xác định lý do của sự tôn kính này. Lý do sâu xa này hệ tại trong chính mầu nhiệm Cứu chuộc, phát xuất từ ý định khôn ngoan của Thiên Chúa muốn cứu chuộc nhân loại bằng sự nhập thể làm người của chính Con một của Người nơi một người nữ trong nhân loại là Ðức Maria :  « suy tư của Giáo hội về mầu nhiệm Chúa Kitô và về bản tính của Người đã dẫn Giáo hội đến khuôn mặt của một người nữ Ðức trinh nữ Maria, Mẹ của Chúa Kitô và là Mẹ của Giáo hội. Và sự hiểu biết sâu xa nhất về sứ vụ của Ðức Maria đã biến thành sự tôn kính đầy niềm vui đối với Mẹ và càng cung kính tôn thờ ý định khôn ngoan của Thiên Chúa đã đặt trong gia đình của Người là Giáo hội cũng như nơi mọi tổ ấm gia đình, khuôn mặt của một người nữ đã âm thầm và với tinh thần phục vụ, không ngừng chăm sóc gia đình của Người và hướng dẫn bước đi của gia đình này tới quê hương, cho tới khi ngày của Chúa đến trong vinh quang“. (Marialis cultus, phần dẫn nhập).

Ðức Maria không ở ngoại biên của Mầu nhiệm. Người thực sự ở trong gia đình nhân loại chúng ta, những con người do bởi tội lỗi, đã từ khước thân phân thụ tạo của mình. Nơi chúng ta, Mẹ là người đã tiếp nhận Thiên Chúa là Ðấng do bởi sự sinh hạ trong trần thế của Chúa Con, Ngôi Lời Thiên Chúa, đã khai sinh Trời Ðất mới như đã được hứa cho chúng ta. Ðức Maria ở trung tâm mầu nhiệm Chúa Kitô và mầu nhiệm của Giáo hội, ở trung tâm của Mầu nhiệm tạo dựng và cứu độ. Chúng ta cần phải nói điều thiết yếu này của đức tin chúng ta, nhờ đó chúng ta được dẫn đưa vào sự thật của công trình Tạo dựng và Cứu độ, sự thật về Giáo hội và sự thật về hồng ân Thiên Chúa, cũng như sự thật về ơn gọi dành cho mỗi người chúng ta.

Ðể đi vào sự hiểu biết này, chúng ta thử đặt những câu hỏi sau đây, nhờ đó chúng ta sẽ dễ dàng nắm bắt được tầm quan trọng của Ðức Maria hơn : Thiên Chúa có thể cứu độ thế giới và thành công trong công trình tạo dựng một cách nào khác hơn việc mang lấy nhân tính của chúng ta không ? Thiên Chúa có thể nào đến ở với loài người chúng ta mà không cần đến sự ưng thuận của một trinh nữ không ? Thiên Chúa có thể nào qui tụ chúng ta trong Giáo hội, trong Thân mình của Con của người mà không cần đức tin của Ðức Maria đón nhận Thánh Thần không ?

Những câu hỏi này cũng nói lên tầm quan trọng của vấn đề. Ðức Maria dẫn đưa chúng ta vào tận trung tâm những tương quan ân tình mà Thiên Chúa đã muốn nối kết với loài thụ tạo của người, ở trong lòng những tương quan ân tình kiến tạo hữu thể vĩnh cửu của Thiên Chúa mà Người đã muốn mạc khải và chia sẻ cho chúng ta. Không nói về Ðức Maria, chúng ta có thể có nguy cơ hụt mất cuộc hẹn với Thiên Chúa. Tuy nhiên, khi nói về Ðức Maria, hay khi chính Giáo hội công giáo định tín những tín điều về Mẹ ở một giai đoạn nào đó của lịch  sử, Giáo hội không muốn thêm gì vào Lời Chúa đã được đón nhận bởi dân Chúa. Giáo hội chỉ muốn gìn giữ trong tâm hồn và ý tưởng của các tín hữu sự tinh tuyền của mầu nhiệm đức tin, trước những mâu thuẫn cũng như hoài nghi có thể tấn công đức tin của họ. Vì thế khi tìm hiểu về Ðức Maria, Giáo hội vẫn luôn cố gắng đón nhận thực tại Ơn Chúa đến độ có thể nói nếu không có Mẹ, chúng ta không thể thực sự đón nhận Hồng ân Chúa ban tặng và hiểu biết Hồng ân này cách trọn vẹn và trung thực với Thánh Kinh.

Vì thế, có thể nói là vào thời đại chúng ta, những tín điều đã được công bố như Mẹ Vô nhiễm nguyên tội và Thăng Thiên nhằm để cao rao sự tin tưởng của kitô giáo vào thế giới này, một thế giới dường như tự hào về viễn tượng những tiến bộ bất tận nhưng ngược lại cũng đang đắm chìm trong cám dỗ thất vọng. Thiên Chúa tiếp tục nhìn thấy trong thế giới đầy đau khổ này trái tim sẵn sàng đón nhận ân sủng của Người, trái tim của Ðức Maria, hoàn toàn sẵn sàng đón nhận hoạt động của Thánh Thần. Nhờ hoạt động của Thánh Thần, Con Thiên Chúa trở nên một hài nhi bé nhỏ trong lòng Ðức Maria và lôi kéo Maria vào trong ánh sáng sự sống của Thiên Chúa. Vì thế chúng ta đang ở trong lòng đức tin và hy vọng kitô giáo : Ðức Giêsu và Mẹ Maria, đó là Thiên Chúa làm người và nhân loại được cứu chuộc, Thiên Chúa và nhân loại được hiệp nhất trong tình yêu. Bởi đó chúng ta nhận ra rằng không gì có thể ngăn cản Thiên Chúa tự trao ban và sau cùng thì loài thụ tạo được cứu độ dứt khoát và Giáo hội trao tặng những hoa quả đầu mùa của Nước Trời.

SỰ THỰC CỦA HỒNG ÂN THIÊN CHÚA.

 Chúng ta đã đặt những câu hỏi căn bản nêu trên và giờ đây chúng ta thử trả lời cho những câu hỏi này về bản chất ơn cứu độ : có thể nào Thiên Chúa hoàn tất công trình cứu độ của Ngài mà không phải nhập thể làm người không ? có thể nào Thiên Chúa đến với con người mà không cần đến sự trung gian của một người nữ là Ðức Maria không ?

Nơi Thiên Chúa, tất cả là tình yêu và tất cả là tự do. Chúng ta không thể lý luận trừu tượng để hiểu biết về Thiên Chúa. Nhưng chúng ta, những con người mỏng dòn yếu đuối, nhìn ngắm công trình của Ngài và chúng ta đón nhận sự sống của Ngài, chúng ta suy ngắm công trình cứu chuộc và suy gẫm những gì mà chính Con Thiên Chúa đã làm trong lịch sử loài người chúng ta  để hiểu biết về Thiên Chúa. Chính Ngài giải thoát chúng ta khỏi sợ hãi để chiêm ngắm công trình tạo dựng toàn bích của Thiên Chúa : tất cả mọi vật làm chứng cho sự hiện diện của Người, đang vẩy gọi trong cái nhìn, trong một cử chỉ, trong lời nói và trái tim của con người, những người đang sống chung quanh chúng ta. Mỗi người là một mầu nhiệm, khai mở tới vô biên, một vô biên không phải là một chân trời vô danh, nhưng mang lấy một khuôn mặt đang tin tưởng. Từ trong lòng trái đất và cuộc sống chúng ta, dù chúng ta không ý thức, đang vang vọng lời mời gọi sống, như một người đang đối diện với một người.

Và nhất là nơi Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể làm người, chúng ta khám phá một con người tự do, một con người tự do vô tận, có thể yêu thương đến tột cùng, ao ước nhìn thấy chúng ta được yêu thương. Không có người, chúng ta không thể làm gì được, và chính Người trao tặng cho chúng ta Thánh Thần của Người (Rm 5,5) ; nhờ đó chúng ta biết mình là ai, là con Thiên Chúa, với phẩm giá cao trọng tột cùng mà chúng ta cũng phải chia sẻ cho mọi anh chị em khác.

Tên Giêsu có nghĩa là Thiên Chúa cứu độ (Mt 1,21) : đó chính là Thiên Chúa chia sẻ thân phận loài người với con người mặc dù những tội lỗi bất toàn của con người. Người đưa chúng ta vào trong Tình yêu và tự do. Người phải đến chia sẻ với chúng ta như thế (Mt 2,15 ; Lc 2,34 ; 24,26 ; Ga 3,14-15) để gặp gỡ chúng ta cho đến tận cùng đau khổ và sự chết của chúng ta. Người phải trở nên như chúng ta để trao tặng cho chúng ta sự sống Thiên Chúa của người. Thiên Chúa không thể cứu chuộc chúng ta từ bên ngoài, bằng một lời tuyên bố độc đoán. Nếu không thì đó không còn là Thiên Chúa của Ðức Giêsu Kitô, Thiên Chúa vốn vượt trên chúng ta ở mọi góc độ. Như thế, Người gặp gỡ chúng ta ở nơi thâm sâu nhất, không ngại ngùng, không sợ hãi phải hoà mình, lẫn lộn với chúng ta : Người quả thực là khác ! Thiên Chúa nhìn chúng ta và yêu mến chúng ta, Người tìm kiếm chúng ta khi chúng ta lạc loài... Và mãi mãi Người vẫn đón gặp chúng ta, âu yếm đợi chờ chúng ta.

Như thế chúng ta thực sự được cứu độ, bởi vì Thiên Chúa đã thực sự tự trao ban. Hiện hữu của chúng ta không phải là một ảo tưởng. Nó tham dự vào chính tình yêu và tự do của Thiên Chúa. Và những gì mà chúng ta gọi là bản tính của chúng ta, những giới hạn của chúng ta, những yếu hèn của chúng ta, những tội lỗi mà chúng ta gọi là bản tính đã hư hỏng, đó không phải là bản tính thật của chúng ta, ơn gọi của chúng ta, tương lai mà chúng ta phải sinh ra. Ơn cứu độ nơi Ðức Kitô và sự trong suốt của tiếng thưa vâng của Ðức Maria làm chúng ta khám phá con người như Thiên Chúa nhìn. Chính Chúa Giêsu đến sửa chữa những tội lỗi chúng ta, Người đã thực sự thực hiện công trình cứu chuộc nhân loại. Nơi Ðức Maria, hoa trái của hồng ân toàn vẹn của sự sống Người, nơi Ðức Maria đầy ân sủng, Thiên Chúa chiêm ngắm thân xác được phục sinh, được tẩy rửa. Chúng ta không phải hổ thẹn về thế giới này nhưng khám phá thế giới trong cái nhìn của thụ tạo mới trong trái tim mới của Ðức Maria.

Thiên Chúa đã thực sự tự trao ban cho trái đất chúng ta và trái đất chúng ta đã thực sự đón tiếp Người. Chúng ta được cứu chuộc khỏi tội và sự chết. Chúng ta thực sự được kéo ra khỏi hư vô, bởi vì Tình yêu đã yêu thương chúng ta. Thánh Thần đã có thể đậu lại trên trái đất con người, Hơi thở của Ðức Giêsu hấp hối trên thập giá đã được trao lại cho một thụ tạo sẵn sáng. Sự tự do của Ân sủng, sự trào dâng của sự Sống đã chiến thắng những bóng tối hỗn mang. Những sức mạnh của sự chết không thắng được Thiên Chúa yêu thương cho đến cùng để thúc đẩy và khơi gợi tình yêu.

Cuộc đời chúng ta có ý nghĩa bởi vì Ðấng vô hạn đã được ban cho chúng ta. Người đã nên một với thân xác nhân loại của chúng ta. Người ta không còn có thể tách lìa Người khỏi chúng ta. Hôn lễ đã được cử hành trong cung lòng Ðức Maria. Ðây không phải là ý tưởng thi vị, nhưng là lời đề nghị của tình yêu đã được thực hiện. Ðấng vô hạn đã vén tỏ bí mật của trái tim Người : người có thể trao ban vì yêu, bởi vì Người vốn là Tình yêu vĩnh cửu. Phép mầu của sự sống là một với phép mầu của tình yêu.

 SỰ THỰC CỦA ƠN CỨU ĐỘ.

 Ðể đi vào trong ý định Thiên Chúa, nếu chỉ nhìn diễn biến bên ngoài của thế giới thì không đủ, cần phải thâm nhập sâu xa vào tận bên trong, tận trái tim. Thiên Chúa làm một điều cao cả, đó là tự trao ban chính mình, bởi vì Người là Tình yêu và Hồng ân ban tặng. Người tự trao ban cách dư dật. Và công trình tạo dựng không phải là một cử chỉ máy móc, nhưng chính là sự biểu lộ của Hồng ân Thiên Chúa, xuất hiện rưc rỡ trong cái chết và sự phục sinh của Ðức Giêsu. Chính vào buổi sáng Phục sinh mà tất cả có ý nghĩa khi chính Thiên Chúa chỗi dậy từ trái đất. Vì thế mà giờ đây chúng ta phải chiêm ngắm sự thực về ơn cứu độ.

Sách Sáng thế ký làm chứng về công trình tạo dựng, « khởi đầu, Thiên Chúa tạo dựng trời đất ». Chỉ có Thiên Chúa và quyền năng tạo dựng của Người ban sự sống cho thế giới hữu hình và vô hình. Trời xuất hiện vào ngày thứ hai và trái đất vào ngày thứ ba. Khởi đầu, chúng ta đứng trước khoảng trống không mông quạnh tối tăm (cái tohu-bohu) mà trên đó Thánh Thần Chúa bay là là. Cần phải xuyên qua bóng tối dày đặc để ánh sáng xuất hiện. Và đây chính là công trình của tự do đã thành công làm vọt lên từ bóng tối lời đáp trả của tình yêu. Cuộc đối thoại vĩnh cửu của Tình yêu tìm cách vươn rộng. Ngay từ khi tình yêu này ra khỏi chính mình, bóng tối đã tìm cách bóp nghẹt tình yêu, nhưng tình yêu vẫn không sợ hãi. Tình yêu đã đi xuống tới tận cùng ngục tổ tông, trong đêm đen vốn bao trùm trái đất vào lúc giữa trưa, trong đêm đen tăm tối của chúng ta khi cặp mắt yếu đuối của chúng ta từ chối ánh sáng nội tâm của Thánh Thần. Mặt trời thần linh đã soi thấu trái đất. Người đã chỗi dậy vài ngày thứ nhất trong tuần và Người đã để cho người phụ nữ đang khóc là bà Maria nhận ra người.

Cuộc đối thoại của Tình yêu vẫn tiếp diễn trong lòng thế giới chúng ta, thế giới vọt lên từ đêm tối. Người đàn bà có tên là Mađalêna được trừ khỏi bảy quỉ (Lc 8,2) đã đi vào cuộc đối thoại tình yêu đó, đã ngụp lặn trong ân sủng tái sinh và đón nhận tên gọi thật của mình, tên của người đã đánh mất tên gọi của mình. Thiên Chúa thúc đẩy loài thụ tạo để làm cho thế giới tham dự sự Sống của người. Nhưng bóng tối từ chối ánh sáng (Ga 1), và tình yêu phải bắt đầu cuộc lữ hành của lòng tin tưởng nơi xứ sở của bóng tối sự chết. Chính là với cái giá như vậy mà công trình tạo dựng được thành tựu : « Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nổi đã ban chính Con duy nhất của mình » (Ga 3,6), « Người đã làm cho con phải mang tội vì chúng ta » (2Cor 5,21). Và tội lỗi đã bị khuất phục tận căn. Và thế giới đã để mình được cứu độ.

Khi thế giới ngụp lặn trong tối tăm, khi những sức mạnh hãi hùng liên minh để tiêu diệt Con Thiên Chúa, để giết chết tình yêu nơi con người, thì Tình yêu đã gặp được một người để đón nhận hơi thở cuối cùng của mình, một người mà Người có thể trao phó sứ vụ trao ban sự sống của mình, người mà Người có thể hướng về để nói với chúng ta : « Này là Mẹ con ». Như thế, dưới chân thập giá, với đức tin tinh tuyền, Mẹ đã đón sự sống để đến lượt mình trao lại sự sống đó.

Tình yêu (Thiên Chúa) chỉ có thể trao ban với điều kiện là được đón nhận. Chúng ta còn phải nói hơn nữa : Tình yêu yêu thương chúng ta hết mực đến độ tự trao ban bởi chúng ta, Tình yêu này kết hợp chúng ta với ơn cứu độ của chính chúng ta. Và điều lạ lùng này phải được hiểu như sau : Tình yêu tới với chúng ta và chữa lành chúng ta từ bên trong, thanh tẩy và động viên tự do của chúng ta, một tự do sẽ không thể được thực sự tái lập nếu như nó vẫn bất động. Chúng ta sẽ cộng tác vào công trình cứu độ và tạo dựng, không phải thêm sức mạnh của mình vào sức mạnh của Thiên Chúa, nhưng chính là Ân sủng hoạt động bên trong tự do của chúng ta, ân sủng chuyển thông cho tự do chúng ta ước muốn và sức mạnh để tự giải thoát. Chúng ta càng là mình hơn khi chúng ta để cho Thiên Chúa hoạt động. Và Thiên Chúa được tôn vinh trong công trình của người khi người nhìn chúng ta hành động : « Anh em hãy biết kính giới và run sợ mà gia công lo việc cứu rỗi chính mình. Vì chính Thiên Chúa tác tạo trong anh em cả ý muốn lẫn việc làm, thể theo nhã ý của Người » (Phil 2,13-14).

 Ðức Maria sẽ hoàn toàn liên hệ tới Con của mình, theo hình ảnh Ba ngôi chí thánh, hoàn toàn là những Tương quan Hiện hữu. Mẹ hoàn toàn tin tưởng, Mẹ là đức tin tinh tuyền đón nhận và chuyển trao. Mẹ giúp chúng ta đón nhận sự thực của ơn cứu độ của chúng ta, Mẹ nói với chúng ta là Thiên Chúa không cứu độ chúng ta nếu không có chúng ta.

SỰ THỰC VỀ GIÁO HỘI.

 Khi thân xác đã bị đâm thâu thì Thánh Thần được trao ban (Ga 19,34), và tình yêu chiến thắng tội lỗi và sự chết, công trình cứu độ cho phép loài thụ tạo được sống thực sự trong trái tim Thiên Chúa. Ðức Maria vừa là một con người vừa là một biểu tượng, bởi vì trong hiện hữu cụ thể của người thiếu nữ Nazarét, nhân loại mới được sinh ra và được hòa giải. Một người thiếu nữ nhỏ bé, ẩn dấu đối với thế giới, lại tập trung trong mình tất cả năng lực sự sống, bởi vì nàng « không biết tới người nam » (Lc 1,34), nàng không hề liên lụy với những cám dỗ của con người muốn giữ sự sống cho mình. Nàng chỉ là hiến dâng. Khi chúng ta nhìn thấy sự phong phú của hiến dâng này, khi chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa, ngay từ nguyên thủy, đã chờ đợi và chuẩn bị sự sẵn sàng tinh tuyền này. Cùng với Giuse (Mt 1,20-24) và người môn đệ Chúa yêu (Ga 19,25-27), chúng ta đón nhận Ðức Maria như di sản và với trách nhiệm, chúng ta hướng về mãnh đất thấm nhuần Thánh Thần này. Giuse, vâng phục sứ thần Thiên Chúa viếng thăm ông trong giấc mộng, đã đón nhận Maria về nhà mình, Maria đang mang trong mình hoa quả của Thánh Thần ; người môn đệ Chúa yêu cũng thế, cũng sẽ đón nhận bà về nhà mình (Ga 19,27).

Ðức Maria dưới chân thập giá, Bà là Mẹ. Bà đã trao ban sự sống của mình, Bà đã trao tặng sự sống cho Con. Giờ đây bà còn phải trao tặng hoa trái của lời Hứa. Maria hoàn tất, theo hình ảnh của Cha trên trời, hiến tế của Abraham mà bàn tay Thiên Chúa đã ngăn cản không cho sát hại Isaác. Chính như thế, khi trao hiến hoàn toàn mà Mẹ thực sự là Mẹ của Con mình, Mẹ là đón nhận và trao hiến tình yêu, trong sự vâng phục đối với Thánh Thần là Ngôi vị tình yêu. Maria ứng xử theo hình ảnh của Chúa Con, Mẹ bước theo Con, Mẹ cũng là người môn đệ cho tới cùng. Hoàn toàn tự hủy, Mẹ chính là nơi ở của Thánh Thần, Hòm bia giao ước vĩnh cửu.

Maria được mời gọi chia sẻ sự sống cho người môn đệ, trở nên Mẹ, Mẹ phải thông truyền Thánh Thần tràn đầy nơi Mẹ cho tất cả mọi người đang muốn theo bước chân của Giêsu con Mẹ. Mẹ phải sinh hạ họ vào đời sống mới, như  một Evà mới bên cạnh Ađam mới, là Mẹ của Dân Thiên Chúa, Mẹ của nhân loại thực sự.

Maria là Mẹ của Giáo hội, nhưng bởi vì Mẹ không có gì riêng cho mình, Mẹ chia sẻ tất cả, cả mẫu tính của mình mà Mẹ kín múc cách đồng trinh nơi suối nguồn duy nhất của Thánh Thần. Khi các môn đệ sẽ học biết tham dự vào đức tin tinh tuyền của Maria, lúc đó họ thực sự là Giáo hội, dù bất toàn, họ cũng được kết hiệp với Thánh Thần Thiên Chúa để qui tụ về cho Chúa Cha những người con mới. Giáo hội, theo hình ảnh Ðức Maria, là hiền thê tinh tuyền và phong phú, sẽ là Mẹ trao tặng cho con người niềm vui tham dự vào tiệc cưới của Con Chiên, và sống đời sống của Chúa Ba ngôi.

Maria nâng đỡ đức tin của Giáo hội. Mẹ là « thành phần tuyệt vời và tuyệt đối duy nhất của Giáo hội », Mẹ không bằng lòng phục vụ như gương mẫu, Mẹ còn chính là mẫu gương và là khuôn mẫu trong đó mọi tín hữu được khuôn đúc theo hơi thở của Thánh Thần. Không có Mẹ, Giáo hội vẫn chỉ là một tập họp những tội nhân. Với Mẹ, ngay từ đầu, Giáo hội là Hiệp thông các thánh, những người nam và nữ đã được công chính hóa cho tới tận những gốc rễ sâu xa và ẩn kín nhất, trong đức tin tinh tuyền với Chúa Kitô.

Maria, Mẹ Giáo hội, không ở trên chúng ta nhưng ở trong lòng gia đình các con cái. Và các con cái Mẹ chỉ có thể hướng về Mẹ với tình yêu để chiêm ngưỡng hồng ân Thiên Chúa, để đón nhận hồng ân này, nơi trái đất tinh tuyền này là nơi mà Thánh Thần muốn ngự đến. Lời cầu nguyện của Ðức Maria hệ tại ở chỗ tan chảy trong vận hành của Thiên Chúa Ba ngôi đang đến yêu mến thế giới này. Maria sẽ lôi kéo chúng ta theo những bước chân của Con Mẹ để gặp gỡ những tội nhân. Là những môn đệ của Ðức Giêsu, chết vì yêu thương những tội nhân, chúng ta đón nhận về nhà chúng ta người mẹ này : từ lòng Mẹ, chúng ta sẽ tái sinh mỗi ngày bởi quyền năng Thánh Thần, chúng ta sẽ sống sự sống của Ðức Giêsu, như những người tôi tớ nhỏ bé của các anh chị em chúng ta.

CHỨNG TỪ CỦA PHAOLÔ.

SINH BỞI NGƯỜI NỮ....

 « Khi thời viên mãn đến, Thiên Chúa đã sai Con của Người,
sinh bởi người nữ, sinh dưới quyền Lề Luật,
để cứu chuộc những kẻ ở dưới quyền Lề Luật,
ngõ hầu ta được chịu lấy quyền nghĩa tử ». (Gl 4,4).

 Nói đến Ðức Maria là nói đến chính công trình cứu độ của Thiên Chúa. Trích đoạn đầu tiên mà các Giáo phụ thường dựa vào là việc nói đến người Nữ mà nhờ đó Con Thiên Chúa đã được sinh hạ vào thế gian này. Trong đoạn văn của thư Phaolô gửi giáo đoàn Galát, Mẹ được nói đến một cách rất khiêm tốn, lướt qua. Ðoạn văn này không hề muốn đề cao Ðức Maria, nhưng là đề cao ý định yêu thương của Thiên Chúa, Ðấng đã muốn làm cho chúng ta trở nên những nghĩa tử của Người. Vậy đâu là vai trò của Maria đối với công trình cứu chuộc chúng ta ?

Thánh Phaolô muốn đặt chúng ta ở trung tâm Mầu nhiệm đức tin. Những tín hữu ở Galát là những người ngoại giáo mới tin vào Chúa Kitô, họ cảm thấy nhu cầu cần thêm vào Tin mừng những thực hành lề luật do thái khiến cho Phaolô cảm thấy nguy cơ làm cho thập giá của Chúa Kitô ra vô hiệu. Ðối với Phaolô, Lề luật của Môisen đóng vai trò người hướng đạo, nhưng khi đức tin chân thật đến, thì chúng ta không còn sống dưới chế độ người hướng đạo nữa, bởi vì đã tin vào Ðức Giêsu Kitô, đã được thuộc về Chúa Kitô và do đó đã trở nên những người thừa tự lời hứa của Thiên Chúa. Việc cần nhờ đến người giám hộ có nghĩa là cho rằng Thánh Thần mà Ðức Giêsu ban cho chúng ta, sự sống thần linh của Người không đủ cho chúng ta, trong khi đó Thánh Thần đã thực sự được trao ban cho chúng ta. Thánh Phaolô từ chối mọi liên lụy với những thực hành xưa của lề luật : « Về phần tôi, ước gì tôi đừng có vinh vang (nơi một điều gì) trừ phi là nơi Thập giá của Chúa chúng ta, Ðức Giêsu Kitô, nhờ đó thế gian đã bị đóng đinh cho tôi, và tôi cho thế gian. Vì chưng, cắt bì hay không chẳng là gì cả ! Có chăng là vì đã nên một tạo thành mới ! (Gal 6,14-15).

 Thánh Phaolô đứng ở ngọn nguồn của Hồng ân Thiên Chúa và hẹn chúng ta cùng đứng ở đỉnh cao của hồng ân cứu độ để hiểu hết tầm mức của ơn gọi làm con Thiên Chúa của chúng ta : chính Con Thiên Chúa đã tự hạ xuống hàng nô lệ để giải thoát những người nô lệ là chúng ta, và làm cho chúng ta trở nên những người con đầy yêu thương của Thiên Chúa. Ðó là lời tóm tắt của tất cả Mầu nhiệm đã được thực hiện, và để đánh dấu thực tại của hồng ân lớn lao này, Phaolô diễn tả việc Con Thiên Chúa đi vào thế giới chúng ta, nhập thể làm người vì chúng ta, Ngài nhấn mạnh cách trống trãi, nói được là không kiểu cách sự quảng đại đến lạ lùng của Thiên Chúa : Con Thiên Chúa, Ðấng vốn là Thiên Chúa cao cả, đến với chúng ta, chia sẻ thân phận con người thấp hèn của chúng ta, được sinh bởi một người nữ, Người còn trở nên đồ « chúc dữ » vì chúng ta (Gal 3,13-14).

Và trong mầu nhiệm lạ lùng này của sự tự hạ của Thiên Chúa, Người thiếu nữ Nazarét này chính là dụng cụ của sự tự hạ của Con Thiên Chúa. Bản văn không dành một tước hiệu vinh quang nào cho Maria, Mẹ chỉ chiếm một vị trí vô cùng bé nhỏ, vô cùng kín đáo nhưng lại tuyệt đối cần thiết. Không có Mẹ, Thiên Chúa và con người không gặp gỡ nhau được, chúng ta không thực sự được trở nên nghĩa tử. Chúng ta có thể nhìn Ðức Kitô như một Thiên Chúa đến với con người, công bố một sứ điệp và thực hiện những điều kỳ diệu đáng kinh ngạc. Nói cho cùng, chúng ta lẫn tránh mầu nhiệm nhập thể, điều kiện cần thiết của Ơn cứu độ.

Tất cả vai trò của Ðức Maria được hàm chứa trong câu nói rất khiêm nhường này của thánh Phaolô. Nếu Ðấng cứu thế được sinh bởi một người nữ, thì người nữ này cũng được tham dự vào sư tự hạ của Người và vào sứ vụ cũng như vinh quang của Người. Bởi vì không phải vô tình mà Người đã đến, nhưng thân xác cũng như toàn thể con người của người nữ này đã được huy động để cho Người được sinh hạ, thân xác mà người nữ này đã nói « chưa hề biết người nam nào ». Người nữ này, dấu chỉ của sự cắm rễ của Con Thiên Chúa, bà hẳn phải có một trái tim hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa.

Ngày mà Thiên Chúa đã có thể đến với trái đất và làm cho phát sinh sự ưng thuận của người nữ này, thì niềm vui của người đã trọn vẹn, « thời gian đã tới hồi viên mãn ». « Trái đất chúng ta đã sinh hoa trái » (Tv 85,13). « Thiên Chúa đã sai Con một của người sinh bởi một người nữ để làm cho chúng ta trở nên những người con của người ». Ðể cứu độ chúng ta, Con Thiên Chúa đã bước vào lịch sử nhân loại, một nhân loại tội lỗi bị đặt dưới lề luật, việc hạ thấp tới vô tận của con Thiên Chúa là điều kiện tiên quyết của việc nâng cao chúng ta. Người nữ này liên hệ tới lịch sử này và lề luật này, Mẹ đã cung cấp cho Ðức Kitô kinh nghiệm đầu tiên của sự tự hạ này. Vậy cũng chính người nữ này là người đầu tiên mà Ðức Kitô làm cho sống kinh nghiệm cứu độ. Bởi vì đối với Người, không có hai giai đoạn trong hiến tế : sự tự hạ là dấu chỉ của Tình yêu của người, diễn tả tất cả vinh quang của Người. Vinh quang không phải là phần thưởng đến sau hiến tế của người. Nơi Thiên Chúa, những biến cố sinh hạ, chết phục sinh và lên trời của Ðức Kitô đều là một và diễn tả sự vâng phục của Người con Thiên Chúa.

ÐỨC MARIA TRONG THÁNH KINH

                                                      Lm. Cabbes, dòng đan tu Cát minh

Người đã được sinh ra “bởi người nữ”. Lời tuyên bố này về mầu nhiệm nhập thể của thánh Phaolô cũng là lời công bố về ơn Cứu độ đến với chúng ta qua sự Phục sinh của Ðức Giêsu, bởi đây cũng là những lời công bố của Giáo hội sau khi Ðức Giêsu Phục sinh. Người đã đến trong thân xác con người, các thánh sử đã bắt đầu đọc lại và chiêm ngắm những biến cố và những lời nói của Ðức Kitô phục sinh và những lời nói cũng như những biến cố này soi sáng nhau và đều chuyển tải ý nghĩa. Giêsu là Ðấng cứu thế: đây không phải là một trong những thuộc tính của người, nhưng đây chính là mạc khải về trọn vẹn con người của Người mà tên Giêsu của Người nói lên. Nơi Người và bởi Người mà Thiên Chúa cứu độ; nơi con người của Người vốn cũng là Thiên Chúa từ nguyên thủy, con người được gặp gỡ và yêu mến, được kéo ra từ hư vô cũng như từ tội lỗi.

Tất cả Thánh kinh hướng dẫn chúng ta đến cuộc hẹn này được thực hiện nơi Ðức Maria; chính nơi Mẹ mà thời gian đạt tới thời viên mãn; chính là thời gian của hồng ân Thiên Chúa mà con người phải đón nhận trong đức tin của Ðức Maria. Lịch sử thánh của dân Israël trở nên lịch sử của chúng ta. Lịch sử không diễn ra cách vô tình đồng dạng. Những biến cố có ý nghĩa dưới ánh sáng ở cuối con đường. Ðó chính là kinh nghiệm của Phục sinh, của một sự sống mạnh hơn cái chết, của một cuộc sống giờ đây được nâng đỡ bởi lời hứa của Thiên Chúa soi sáng và giải thích những chặng đường đi qua. Mồ trống, Ðức Giêsu vẫn đang sống, Ðấng đã chịu đau khổ và chết, Ðấng đã nói và làm những phép lạ, đã đến trên trần gian này như Con Thiên Chúa, làm chứng cho Nước trời.

Tất cả Thánh kinh là ký ức về tình yêu này của Thiên Chúa, được thực hiện trong lịch sử nhân loại. Ðức Maria chính là điểm hẹn để cho tình yêu này được thực hiện và hoàn tất: Mẹ đã đón nhận Lời Thiên Chúa vào trong thân xác mình. Chúng ta chỉ có thể chấp nhận vai trò của Mẹ bằng cách đón nhận một thái độ đón tiếp Lời. Maria chính là mẫu gương của việc sẵn sáng lắng nghe Lời, việc lắng nghe này không ngừng được đổi mới và đào sâu bởi những biến cố mới cho đến biến cố tột cùng là sự Phục sinh của Ðức Giêsu.

Ðể hiểu biết về Ðức Maria, chúng ta sẽ dựa trên Thánh kinh, nhưng không phải là trên một tập sách tổng kê về những sự kiện bên ngoài, nhưng là như một lịch sử sống động cần phải học hỏi để tiến sâu vào. Thánh kinh là một sưu tập những tư liệu rời rạc, phân tán, được gom góp lại do bởi lòng tin và tình yêu của những thành viên của một gia đình rồi truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác một cách sống động: những tín hữu nhận ra mình trong Thánh kinh và đón nhận những ý nghĩa mới của Thánh kinh. Nếu như Mạc khải “đã khép lại với vị tông đồ cuối cùng”, chính là vì Thiên Chúa đã nói tất cả nơi Con của người, nhưng không phải là chúng ta đã hiểu hết được những điều nói trong Thánh kinh. Truyền thống của Giáo hội không thêm gì vào đó, nhưng truyền thống này khám phá trong đó những chân trời hướng dẫn Giáo hội và dẫn đưa Giáo hội càng lúc càng đi xa hơn.

Thánh kinh thuật lại cho chúng ta bí mật của Israël, đời sống thầm kín của một dân tộc được tuyển chọn cách mầu nhiệm, nơi thực hiện của cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và nhân loại. Và nơi Israël, mọi dân tộc, mỗi một người chúng ta được mời gọi tái sinh với một trái tim mới và một tinh thần mới. Chính trong tiến trình sinh hạ này mà chúng ta đi vào khi chúng ta đọc Thánh kinh. Người ta chỉ hiểu biết khi người ta dấn thấn vào, khi người ta chấp nhận tin tưởng và phó thác. Chân lý của Thánh kinh là môt chân lý sống động mà người ta không thể chiếm hữu hay có được như một điều chắc chắn đã đạt được, nhưng là một chân lý mà người ta không ngừng tìm kiếm, bởi vì “chưa từng có ai đã thấy Thiên Chúa; nhưng Con một là Thiên Chúa và là Ðấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1,18).

 Sự hiểu biết chân thực là hiểu biết thân mật, trong ân tình và đầy lòng hiếu thảo, đồng thời nó cũng là hiểu biết phong phú. Ðó chính là một đời sống được chia sẻ: “Tất cả những gì Thầy nghe biết nơi Cha Thầy, Thầy đã tỏ cho anh em biết” (Ga 15,15). Sự sống của Thiên Chúa mà chúng ta đón nhận trong lịch sử Israël và trong nhân loại là sự sống tuôn tràn và là hồng ân, là lời mời gọi và cũng là sứ mạng được trao ban. Qui luật quan trọng mà chúng ta kiểm chứng trong trường hợp của Ðức Maria và cũng đúng trong cả Thánh kinh, đó là ý nghĩa của nó được đọc ra ở cuối đường, lúc mà nó đơm bông kết trái. Thực vậy, đời sống của người công chính cũng như của  kẻ độc ác có thể được nhận ra tùy thuộc nơi kết quả này. Ðời sống là một đà vươn lên chứ không chỉ là một tổng số trừu tượng những thái độ sống tốt hay xấu; đời sống là đối thoại và là sự uốn nắn tiệm tiến, hoặc trái lại là sự từ khước càng lúc càng cứng rắn hơn đối với Lời Chúa. Nơi Ðức Maria, chúng ta học nhận ra Ðức Maria mà tất cả cuộc sống chỉ là dành cho Ðức Giêsu: trước mặt Thiên Chúa, Mẹ chỉ là hiến dâng. Và vì dâng hiến, hằng giây phút, Mẹ cũng chính là bể chứa những hồng ân của Thiên Chúa mà Mẹ không giữ lại cho mình, Mẹ hoàn toàn đầy tràn Thiên Chúa, và mãi mãi chính Chúa là sự sống của Mẹ.

Khởi đi từ mầu nhiệm Phục sinh, chúng ta hiểu ý nghĩa của toàn bộ Thánh kinh. Chúng ta hiểu rằng tất cả được sắp đặt một cách kín ẩn từ đời đời phát xuất từ dự định của Thiên Chúa Tình yêu. Trong việc đọc Thánh kinh này, người nghiên cứu trước hết trở nên người môn đệ, học hỏi và lắng nghe những hoàn cảnh mà Thánh kinh thuật lại để học biết nhận ra hoạt động của Thánh Thần, nhất là hoạt động nơi những người nữ mà cơ thể của họ hiệp thông một cách sâu xa với trái đất mang sự sống, mà tâm hồn họ là tâm hồn nhạy cảm, sẵn sàng dễ dàng với mầu nhiệm. Với đức tin, chúng ta lắng nghe qua Thánh kinh Thiên Chúa nói và tự mạc khải, chính Thiên Chúa vạch ra con đường để làm cho chúng ta được hiệp thông sự sống với Người.

Lịch sử Thánh, con đường giao ước,

Tất cả Thánh kinh làm chứng cho công việc chuẩn bị để dẫn tới Ðức Maria. Tất cả Thánh kinh làm chứng cho ước nguyện ban đầu của Thiên Chúa hằng muốn thiết lập giao ước với con người. Ngay từ đầu sách Sáng thế, Thiên Chúa thực hiện công trình tạo dựng mà đỉnh cao là việc tạo dựng người nam và người nữ với công việc và sự phong nhiêu trong thế giới được hướng về việc cử hành ngày Sabát. Ðoạn người ta thấy một ngôi vườn được dựng lên ở Êđen: tất cả sự hài hòa của nó dựa trên sự kính trọng lời, sự kính trọng giao ước. Ðó là một cây mà người ta không được ăn trái của nó. Như thế, con người trong tương quan của mình với thế giới, phải kính trọng và kính cẩn đối với giao ước của Thiên Chúa.

Tương quan này với Thiên Chúa chạm phải sự từ chối của con người, với tham vọng kiêu kỳ tự mãn của con người. Và ngay từ đầu vai trò bí nhiệm của người nữ so với những sức mạnh đen tối trong thế giới này, được tượng trưng bởi con rắn, được loan báo. Bởi vì dựa trên chính  giao ước giữa người nam và người nữ mà giao ước với Thiên Chúa được gìn giữ. Vâng, sự liên đới mầu nhiệm giữa sự trung tín tôn giáo, sự bền vững của hôn nhân, sự hài hòa với công trình tạo dựng: chính bởi người nữ mà tuơng quan giữa ba lãnh vực này được thiết lập, chính người nữ đón nhận và chuyển trao sự sống.

Chính Abraham, cha của những người tin, khi được ba người khách lạ viếng thăm ở Mambrê, thì được mời gọi hướng về người nữ. Khi Thiên Chúa chọn ông để phúc lành của người có thể đến với mọi dân tộc, thì Thiên Chúa muốn ông là người có đức tin, con người của lời hứa, phần Sara vợ ông thì chính là người phải đón nhận hậu duệ dòng dõi mà Thiên Chúa muốn. Theo hình ảnh của Thiên Chúa, con người là loài thụ tạo của giao ước: chính trong tương quan nam-nữ mà thực tại của tâm hồn con người được xây dựng và được kiểm chứng, cũng như thực tại của  trái tim của con người với Thiên Chúa được kiểm chứng.

Tương quan chỉ có thể hiện hữu trong tin tưởng. Người nữ, được tạo dựng như là kẻ đón tiếp và nơi chứa đựng sự sống, dạy cho người nam nhu cầu cần người khác, sự tin tưởng nơi người khác. Suốt chiều dài lịch sử cứu độ, người nữ bảo đảm sự tiếp nối của giao ước mặc dù mọi cám dỗ mà nàng tượng trưng. Dầu vậy, luôn luôn người nam phải quay về với người nữ để đón nhận hoa quả của lời hứa. Người nam cần tới sự quả cảm tin tưởng của người nữ để cắm rể sự vâng phục của mình theo ý định của Thiên Chúa. Suốt Cựu ước, sự vụ của Maria đã được chuẩn bị xuyên qua hình ảnh những người nữ. Ban đầu là Evà, dù bất vâng phục và do đó kéo theo sự chết, lại là người nhận lời hứa một hậu duệ sẽ chiến thắng Ác thần và làm mẹ những kẻ sống. Do bởi lời hứa này mà Sara mang thai một con trai trong lúc tuổi già. Ngược lại mọi chờ đợi con người, Thiên Chúa chọn lựa điều được xem là bất lực và yếu đuối để chứng minh sự thành tín của Người với lời hứa. Anna, mẹ của Samuel, Dêbora, Rút, Giuđít và Ét-te và nhiều người nữ khác nữa. Ðức Maria giữ vị trí trên hết giữa những người nghèo và khiêm nhường này của Thiên Chúa là những người hy vọng và đón nhận ơn cứu độ từ Người. Với Maria, người thiếu nữ Sion tuyệt vời, sau khi chờ đợi lâu dài lời hứa, mà thời gian được hoàn tất và giao ước mới được thiết lập.

Thiên Chúa thiết yếu là ngôi vị và tương quan ngôi vị. Thiên Chúa không muốn ngỏ với nhân loại như với một nhóm người vô danh. Người chọn những người nam và nữ, để qua những người đó mà tình yêu người đến với loài người. Người đã chọn Abraham và Sara, và trong dòng dõi họ, người sẽ lần hồi chuẩn bị một “số sót” nơi những người đó Người có thể nhận ra hiền thể yêu dấu của Người, kẻ sinh cho người những con trai con gái theo hình ảnh của Người. Chủ đề giao ước được diễn tả càng lúc càng rõ rệt bởi biểu tượng hôn lễ. Vì thế, qua các tiên tri, sự bất tín của Israël đối với những lệnh truyền của Thiên Chúa bị lên án như ngoại tình và việc tái lập giao ước sẽ như sự tái lập hôn lể thời sa mạc và được diễn tả trong bài ca ngợi tình yêu của sách Diễm ca:

Tôi nghe tiếng người yêu tôi... tôi chờ đợi nơi cửa sổ,
“Ban đêm tôi đã tìm kiếm chàng, người lòng tôi yêu......
“Hỡi em yêu, em  đẹp tuyệt trần không chút tì vết,
“Em là vườn khép kín, là suối niêm phong ».

 Nhưng tình yêu càng mạnh mẽ thì thất vọng càng chua chát khi tội ngoại tình bị khám phá. Tiên tri Osê đã kinh nghiệm điều này trong chính xương thịt của mình. Ông phải « cưới một người vợ ngoại tình và có những người con ngoại tình, bởi vì xứ sở chỉ làm chuyện ngoại tình bằng cách bỏ Chúa » (Os 1,2). Chính vì thế vườn nho của Người và cây vả của người bị bỏ hoang và con cái Israël sẽ thấy người mẹ của chúng bị trừng phạt : « Israël chạy theo những tình nhân của mình, còn Ta thì nó đã quên mất ! Sấm ngôn của Chúa » (Os 2,15).

Israël càng ngoại tình thì Thiên Chúa càng chua xót và càng muốn đưa Israël trở về như người chồng đưa người vợ ngoại tình trở về. Thiên Chúa muốn phối hợp với dân của người như một người chồng phối hợp với người vợ trinh nguyên của mình. Và của hồi môn sẽ là việc chia sẻ sự trung tính của người, của tình yêu nhưng không của người làm thay đổi trái tim kẻ bất tín : « Chính vì thế Ta sẽ quyến rũ nó và Ta sẽ dẫn nó vào sa mạc và Ta sẽ nói vào trái tim của nó. Ở đó, Ta sẽ cho nó những vườn nho, và Ta sẽ làm cho thung lũng bất hạnh thành cửa hy vọng... Ta sẽ cưới ngươi với Ta muôn đời ; Ta sẽ cưới ngươi với Ta trong thành tín và ngươi sẽ biết Chúa » (Os 2,16-22).

 Trong sách Isaia, người ta cũng nhận thấy cùng con đường đổi mới và tái lập giao ước. Ban đầu Chúa than thở: “Làm sao nó lại trở nên người ngoại tình, thành trung tín ? Sion đầy tràn ngay thẳng chính trực, nơi công lý ngự trị và bây giờ là quân sát nhân ! » (Is 1,21). Nhưng ở đoạn cuối thì Chúa reo lên vui mừng : « Ngươi sẽ không còn bị người ta nói : « đồ bỏ ». Và xứ sở ngươi sẽ không còn bị gọi là « hoang vu ». Vì thiên hạ sẽ gọi ngươi là « Sủng ái của Ta », vì đất đai ngươi : « đất đã kết duyên ». Vì Giavê sẽ đặt sủng ái của Người nơi ngươi, và đất đai ngươi sẽ được kết duyên. Như trai tài sánh duyên thục nữ, Ðấng dựng nên ngươi sẽ cùng ngươi kết nghĩa giao duyên, như tân lang hoan hỉ nơi một tân nương, Người sẽ hoan hỉ nơi người Thiên Chúa ngươi thờ » (Is 62,4-5).

Giêrêmia cũng được sai đến để la vào tai Giêrusalem bất tín : « Vị tình, Ta nhớ lại tiết nghĩa thiếu thời của ngươi, mối tình vào buổi đính hôn, làm sao ngươi đã theo Ta trong sa mạc, trên đất không hề thấy có hại giống gieo » (2,2). Nhưng Thiên Chúa vẫn tín trung : « Ta đã yêu ngươi, một tình yêu muôn đời, bởi thế với ngươi, Ta đã giữ bền lòng ân nghĩa » (31,3-4).

 Làm sao không gợi lại bài dụ ngôn về người vợ ngoại tình bất trung trong sách Ezêkiel chương 16 : « Có lời Giavê đến với tôi mà rằng : Con người hỡi, hãy vạch ra cho Giêrusalem biết các điều ghê tởm của nó. Ngươi sẽ nói : Ðức Chúa Giavê phán thế này với Giêrusalem : tông tích ngươi, tổ tiên ngươi do từ đất của dân Canăn ; cha ngươi là người Amori, mẹ ngươi là người Hittít. Còn về việc ngươi sinh ra : vào ngày ngươi mới sinh ra, không ai cắt rốn, không nước tắm sạch, muối không xát, tã không bọc. Không ai rớm mắt trên ngươi mà làm cho ngươi một điều gì như thế, gọi là có chút thương tình trên ngươi ; nhưng ngươi đã bị quăng ngoài đồng ; mạng ngươi không ai đếm xỉa, vào ngày ngươi mới sinh ra. Bấy giờ Ta ngang qua bên ngươi và thấy ngươi lê lết trong máu me ngươi, và Ta đã nói vơi ngươi đầy những máu me : Hãy sống. Hãy nảy nở như chồi lộc trong đồng. Và ngươi đã nảy nở, đã lớn đẫy, và ngươi đến tuổi dậy thì, bộ ngực nở nang, tóc tai mọc rậm ; nhưng ngươi vẫn tô hô trần truồng. Ta đã ngang qua bên ngươi và Ta đã trông thấy ngươi. Này : Ngươi đã đến tuổi, cái tuổi yêu đương ! Và Ta đã xoà vạt áo trên ngươi mà che đi cái trần truồng của ngươi, Ta đã thề với ngươi và giao ước với ngươi - sấm của Ðức Chúa Giavê. Và ngươi đã thành của Ta. »

 Nếu chúng ta chấp nhận nhìn « Giao ước » như là lối nói căn bản, nền tảng của lịch sử cứu độ, thì chúng ta cũng nhìn nhận trong hình ảnh « hôn ước », « ngoại tình », « tái lập hôn ước » là điều gì hơn chỉ là cách nói. Ðó là với những « người nam và nữ » là hình ảnh của Thiên Chúa, một Thiên Chúa muốn giao ước cách hoàn toàn với con người. Như thế, hôn ước nhân loại là diễn tả đẹp nhất ý nghĩa nhất của Thiên Chúa tình yêu đối với con người. Nhưng khi chúng ta khám phá theo ánh sáng này, thì giao ước hôn nhân của con người dầu sao cũng là tương đối, là hình bóng của hôn ước đích thực, đó là giao ước vĩnh cửu giữa Ba ngôi Thiên Chúa, được nối dài trong giao ước của Chúa Kitô với Giáo hội.

Từ đỉnh cao thập giá, Chúa đã ban thịt máu người cho nhân loại là hiền thê của người, đó là « tiệc cưới Con Chiên » được cử hành một lần thay cho tất cả giữa Ađam mới và Evà mới ; hôn lễ này được kéo dài trong việc đón nhận Tin mừng và những bí tích trong Giáo hội. Thánh Gioan, thánh Phaolô là những người rao giảng cho hôn ước này, những « người bạn của Tân lang » trong tác vụ tông đồ của các ngài. Giáo hội chính là sự hoàn tất của Israël, nơi Giáo hội mà lời hứa cho Sion được thực hiện là qui tụ trong lòng mình mọi dân tộc như người mẹ qui tụ các con cái mình (Tv 87 ; Is 60 ; Mt 23,37).

Israël, và sau đó là đoàn dân tín hữu phải là trái tim của một nhân loại mới, trinh nguyên và là hiền thê của Thiên Chúa, mẹ của những người được mặc áo cưới. Hôn lễ hoàn hảo đã được sống trên thập giá, lúc mà nhân tính của Chúa Kitô kết hợp hoàn toàn với hiến lễ thần linh là trọn vẹn con người của người. Nhưng nhân tính mà Chúa Kitô có được chính là nhân tính mà Ðức Maria đã trao tặng, một người nữ mà trọn vẹn cuộc sống là hiến dâng, là hình ảnh của Sion, và cũng là hình ảnh của Giáo hội tiên khởi. Không có mẹ, sự gặp gỡ này không thể thực hiện được, nhưng Mẹ chỉ có thể được như thế là do bởi ơn Chúa. Ðức Maria được xem như là hoa quả, thành tựu của một lịch sử, người nữ mà nơi đó niềm hy vọng của đoàn dân được thành tựu, một đoàn dân được thử thách, nhưng luôn được Chúa yêu thương, tha thứ. Chính nhờ Mẹ mà Con Thiên Chúa nhập thể làm người, đi vào trong gia đình nhân loại.

GIA PHẢ CHUA GIESU THEO THANH MATTHEU.

 Ngay từ những hàng đầu, Phúc âm thánh Matthêu thuật lại cho chúng ta về nguồn cội : « Gia phả Ðức Giêsu Kitô, con Ðavít, Con Abraham ». Matthêu đưa chúng ta về nguồn, về công trình tạo dựng, bởi vì Ðức Giêsu chính là con người của cuộc tạo dựng mới, tạo dựng đích thực, con người khai mở đường lối của lịch sử như Thiên Chúa mong muốn. Người sẽ là Môisen mới, người thiết lập giao ước mới được ghi khắc vào tâm hồn con người (Mt 5-7 ; 11,25-30), hiến chương của Nước Trời.

Chúng ta nhận thấy cách trình bày gia phả của Matthêu được chia thành ba loạt mười bốn đời. Cách mô tả thường theo một công thức như A sinh B, B sinh C. Nhưng thình lình, công thức đều đặn này bị ngưng đột ngột với Giuse. Giuse được nói là « chồng » của Maria là người mà « bởi bà, Ðức Giêsu gọi là Kitô, đã sinh ra ». Như thế, vai trò của Giuse được nhấn mạnh là người chồng, nhưng không phải là người sinh ra Ðức Giêsu, vai trò đó được dành cho Ðức Maria, nhưng cách nói về Ðức Maria cũng không theo công thức bình thường, « bởi bà ». Tất cả bí mật là ở đây : chính nơi bà mà công trình là kết tụ của cả lịch sử được diễn ra. Tất cả lịch sử nhân loại, với ba loạt 14 đời hướng về Ðức Giêsu, và nơi người đàn bà này, kết quả sau cùng đạt được chỉ vì Ðức Giêsu được ban tặng, Maria là chứng nhân, vừa thụ động và vừa đón nhận, một công trình của Thiên Chúa hoàn toàn vượt khỏi bà cách vô tận : đó chính là công trình của Thánh Thần.

Chúng ta có thể tiếp cận mầu nhiệm này lần hồi bằng cách chú ý đến cách trình bày của Matthêu. Trong gia phả này, người ta nhận thấy sự xuất hiện đặc biệt của những người nữ : Thamar, người phụ nữ mà truyền thống do thái trình bày như người « thánh hóa Tên Thiên Chúa ». Bà chấp nhận ngoại tình với bố chồng là Giuđa để bảo đảm cho ông một dòng dõi, và như thế bà làm cho chương trình của Thiên Chúa được thành tựu (St 38). Thánh Thần chứng nhận bà là « người công chính ». Cũng vậy, thái độ của Rahab, người kỹ nữ thành Giêrikhô, đón tiếp những người do thám do Giosuê gửi tới vào giai đoạn chiếm đất hứa của người do thái. Bà này cũng là người cộng tác với Thánh Thần. Phần bà Rút, người Moab, Thánh kinh đặt bà trong tương quan trực tiếp với Thamar, được xem như là dấu chỉ phúc lành của Thiên Chúa do lòng trung tín của bà (Rt 4,12) : bà làm tất cả mọi sự để bảo đảm cho người mẹ chồng có con nối dòng. Sau cùng là Bétsabê, người ngoại tình với Ðavít đã khiến cho ông phải chịu phạt nặng nề đồng thời cũng làm chứng về sự thống hối rất đáng thán phục của ông, bà bảo đảm cho Ðavít người con là Salômon. Thiên Chúa dùng những phương thế quanh co để làm cho chương trình cứu chuộc của người được thành tựu : chính những người phụ nữ này đã sẵn sàng vào những giai đoạn thực tế nhị của dự định của thánh ý Người.

Maria thuộc vào số những người này, nhưng vai trò của Mẹ hoàn toàn độc đáo. Sự ngắt đoạn xảy ra nơi Maria, và được đẩy tới chỗ hoàn tất, bởi vì bà được kết nhập vào vai trò của những người nam theo lối kể của gia phả, nhưng không phải như bà thực hiện vai trò của một người nam. Maria phải đón nhận sự can thiệp mới mẻ, hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa. Việc nghiên cứu kỹ lưỡng Thánh kinh sẽ giúp chúng ta khám phá ra nơi Ðức Maria, ngay từ khi được nói đến trong Phúc âm, sự xuất hiện của đức tin những người nghèo, những người tin tưởng cậy dựa vào chỉ lời Chúa, sự trung tín của những người nữ suốt lịch sử Israel ; Maria là người nữ sinh con chỉ nhờ vào sức mạnh của Thiên Chúa : Thiên Chúa nhận ra nơi bà người trinh nữ Israël, người thiếu nữ Sion mà Người đã tuyển chọn, Người nhận ra nơi bà một nhân loại sẵn lòng mà Người mong muốn và có thể kết hiệp. Maria gồm tóm sự chờ đợi và ước muốn của những người nghèo, Mẹ cũng là kết quả của sự chờ đợi của họ. Như trong thư gửi Galát nói tới, Mẹ đóng một vai trò vô cùng kín đáo và tuyệt đối cần thiết, Mẹ đón nhận Hồng ân của Thiên Chúa.

Như thế sự Phục sinh của Chúa Giêsu không thể được giải thích như kết đoạn vui vẻ hạnh phúc của một lịch sử cá nhân hoặc sự biểu lộ của một ơn cứu độ hoàn toàn độc đoán và phi nhập thể. Nhưng nó diễn tả và thông truyền sức mạnh của sự sống đã có thể cắm rễ sâu xa vào trái đất chúng ta và biến đổi nó từ bên trong, đến độ sự chết mất đi sức mạnh và vương quốc của nó. Nhờ Ðức Maria, Chúa Kitô và chúng ta liên đới với nhau : Mẹ là nền thinh lặng nơi đó Ngôi Lời có thể cư ngụ, nơi Mẹ lộ ra mầu nhiệm Sự Sống, từ lòng Mẹ Ðức Giêsu được sinh ra Ðấng vốn là ơn cứu độ : Người là Ðấng cứu thế, sinh ra từ trái đất. Ngay từ giây phút đầu tiên của nhập thể, mầu nhiệm Phục sinh được hoàn tất : đó là ý nghĩa của những « Phúc âm thời thơ ấu ».

« Gia phả » Ðức Giêsu là bộ phận của Phúc âm. Thiên Chúa hoạt động trong lịch sử, bởi những biến cố thực sự và mầu nhiệm có ý nghĩa đối với những cặp mắt có đức tin. Thiên Chúa hoạt động trong thế giới này và chờ đợi nơi Maria sự thinh lặng lắng nghe. Các thánh sử làm chứng về sự kín đáo của Giuse, sự kín đáo của Maria trong ngày Giáng sinh cũng như dưới chân thập giá vào ngay thứ Sáu hay vào sáng ngày lễ ngũ tuần.

Việc thụ thai và sinh hạ Ðức Giêsu.
Tên gọi Ðức Giêsu,

            Sau phần nhập đề long trọng của Phúc âm Matthêu trình bày những thế hệ dẫn tới Ðức Giêsu, con Ðavít, con Abraham, Matthêu bắt đầu bình luận : được cắm rễ trong mãnh đất nhân loại, Ðức Giêsu biểu lộ sức mạnh sáng tạo của Thiên Chúa luôn hoạt động. Ðó chính là điều được diễn tả ở phần hai của trình thuật về gia phả trong đó tên gọi Giêsu mà người nhận được từ Giuse theo những hướng dẫn của sứ thần Thiên Chúa được hiểu như là dấu chỉ của việc Thiên Chúa ở với nhân loại : « Họ sẽ gọi Người là Emmanuel ». Nơi người, con của Abraham, mọi gia đình nhân loại sẽ được chúc phúc : « Và này Ta sẽ ở với các ngươi mọi ngày cho đến tận thế » (Mt 28,20).

Tên gọi Giêsu đồng thời cũng là một sứ vụ, một hoạt động cứu độ. Vị « Thiên Chúa ở với chúng ta » là một Thiên Chúa hoạt động, một Thiên Chúa cứu độ, không phải từ bên ngoài nhưng hoà đồng với dân của Người trong những thử thách để làm cho dân người hưởng ơn sự sống. Matthêu cho thấy Người trốn sang Ai cập vì bị đe doạ mạng sống như Môisen và những con trai đầu lòng của người do thái xưa kia. Việc xuất hành khỏi Ai cập, hình ảnh tượng trưng của mọi sự giải thoát Israël, mới chỉ là loan báo của cuộc xuất hành mới và quyết định nơi Ðức Giêsu Ðấng giải thoát mọi người khỏi chết, bởi vì Người là Con Thiên Chúa. Giêsu, con Ðavít, làm cho chúng ta chia sẻ gia nghiệp của lời hứa với Abraham.

Con Thiên Chúa, Người cũng không kém là con người, con thuộc về trái đất này, của một miền đất thông thường, làng Nazarét, một làng vô danh trong Thánh kinh dầu vậy là miền đất thuộc Galilê và thuộc lãnh thổ Israel, đất của lời hứa. Giêsu đã được sinh ra từ trên đất hứa này và Người công bố hiến chương Nước Trời, ở đó người cũng kêu gọi những môn đệ. Chính từ Galilê mà Ðức Giêsu nhận tên gọi mà Matthêu dùng để chỉ Ðức Giêsu trong phần kết của Phúc âm thời thơ ấu : « Người sẽ được gọi là người Nazarét ». Tên gọi này, theo phúc âm Gioan, cũng xuất hiện trên thập giá : « Giêsu người Nazarét, vua dân do thái » (Ga 19,19). Tên gọi này làm nghĩ đến neser, đến chồi lộc trong Is 11,1, hoặc đến số sót được dành cho Thiên Chúa trong những bài ca về người tôi trung (Is 42,6 ; 49,8 ; 53,2), hoặc đến người nazir trong sách Thẩm phán 13,5.7. Thực vậy, thánh sử Matthêu đi từ thực tại mà ông biết để khám phá trong đó sự chuẩn bị trong lịch sử thánh : chúng ta sẽ thấy những chứng từ khác. Ở đây, Nazarét ở Galilê, thôn làng vô danh dầu vậy đã được chuẩn bị cách mầu nhiệm, xuất hiện như « nơi thực hiện, không chỉ một lời hứa, nhưng toàn bộ những lời hứa » : xuyên qua cách gọi này, mặc dầu bị những người khác khinh bỉ, đó lại chính là công trình quyết định của Thiên Chúa được biểu lộ.

Chính Giuse, người công chính, con Ðavít, được trao trách nhiệm đặt tên cho con trẻ, đưa con trẻ trốn sang Ai cập, và từ đó đưa con trẻ trở về. Ông là người nhận được những lời mộng báo, hành động tin tưởng và vâng phục theo thánh ý Chúa (Mt 1,18-25 ; 2,13-15 ; 2,19-23). Trong mỗi một trong ba giai đoạn này, Ðức Giêsu được « gọi », Người được gọi là Con Thiên Chúa, Ðấng cứu thế. Khi tiếp đón Ðức Giêsu và khi đưa trẻ thơ Giêsu qua những thử thách thoát chết, Giuse, người thừa tự của dòng dõi Israël, được mời gọi nhận vào nhà mình người mẹ của con trẻ, người mà bởi đó hồng ân của Thiên Chúa đến với ông : chính bởi bà mà hồng ân của Thánh Thần được ban cho dân được tuyển chọn cũng như cho toàn thể nhân loại. « Maria, mẹ người » là dụng cụ hoàn toàn phù hợp với ý định của Thánh Thần, của tự do tận hiến cho ân sủng.

            Vai trò của Thánh Thần,

            « Ðấng được sinh ra nơi ba là do Thánh Thần ». Ðó là lời giải thích vào cuối gia phả với lối văn ở thể thụ động, dành cho Thiên Chúa như tác nhân chủ động : chính Thiên Chúa thực hiện kết quả sau những cố gắng lâu dài của con người, chính Người mà chúng ta thấy hoạt động trong trình thuật giáng sinh của Ðức Giêsu, người mời gọi sự trung tín của người nữ. Vai trò của Ðức Maria là đón nhận ơn nhưng không của Thiên Chúa. Bởi vì chính con người chuyển trao gia sản này, nhưng chính Thiên Chúa ban tặng. Nơi Maria mà vai trò của Thiên Chúa và con người được hoàn tất và soi sáng cho nhau.

Thánh Thần không can thiệp như người chồng của Maria. Chồng của Maria là Giuse, Maria chính là vợ của Giuse. Dầu vậy, khi bà mới hứa hôn và chưa chung sống với Giuse, thì bà đã thụ thai trước khi họ chung sống với nhau. Người hôn thê này đã là người vợ theo pháp luật ; nếu hôn phu qua đời, bà trở nên goá phụ. Ở đây, Giuse được mời gọi đón nhận biến cố này, không phải như một sự sinh hạ nhân loại, một sự sinh hạ thông thường, nhưng như một công trình tạo dựng mới. Ông phải rời bỏ lãnh vực lý trí bình thường để thực hiện ơn gọi của người công chính, để đi vào sự công chính của Thiên Chúa.

            Vai trò của Giuse,

            Nhân loại phải học đón nhận Ðấng chính là Hồng ân. Dòng dõi Ðavít không thể có đấng Cứu thể từ trong số những hậu duệ được sinh ra tự nhiên của mình, nhưng dòng dõi này có thể đón nhận Người bởi đức tin nếu nó cùng với Giuse đáp lại sự công chính của Thiên Chúa vượt lên trên sự công chính của lề luật. Danh hiện con Ðavít có thể được qui gán cho Ðức Giêsu bởi những người do thái nhìn nhận Người chính là con Thiên Chúa (Mt 22,41-46). Chính đó là chiều hướng mà việc Giuse đón nhận hồng ân Thánh Thánh muốn hướng chúng ta đến. Giuse không thể lấy tên của mình mà đặt cho con trẻ không thuộc về ông, nhưng ông cũng không thể làm cho Maria phải chịu kết án : Phúc âm đã cẩn thận làm sáng tỏ mầu nhiệm này bằng cách ngay từ đầu trình thuật, cho biết rằng Maria mang thai bởi phép Thánh Thần, như muốn nói là sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Ðức Maria phải định hướng mọi sự sau đó, và trước hết là thái độ của Giuse. Ông được gọi là « công chính » bởi vì ông để cho Thiên Chúa hành động, ông hoàn toàn vâng phục theo thánh ý Thiên Chúa, ông tự xoá mình, và chỉ hành động theo lời Thiên Chúa.

Vì thế, Giuse người công chính biết đón nhận, thì ông cũng được đón nhận vào công trình  của Thiên Chúa : ông nhận được sứ mạng của mình là đặt tên cho con trẻ, tên Thiên Chúa cứu độ. Giờ đây, Thiên Chúa tự đồng hóa với ơn cứu độ dân người. Người không chỉ bằng lòng chọn những người hùng hành động bởi sức mạnh của người như Samson, người nazir trong cựu ước, chỉ là hình ảnh xa xôi của Ðấng cứu thế trọn vẹn mà người ta sẽ gọi là người Nazarét. Giuse, người đã khai mở cho mầu nhiệm trước sự can thiệp của sứ thần, được đồng hóa với sứ vụ của Người, nhân danh dòng dõi Ðavít, ông đón nhận người con của trinh nữ.

Thánh kinh can thiệp để nhấn mạnh thái độ của Israël đích thực, rất khác biệt với thái độ của những vị vua bất tín làm phiền lòng Thiên Chúa (Is 7,13). Thánh kinh không làm chứng cho chúng ta về sự thật một giáo thuyết, để chúng ta khỏi phải tin : ngược lại, Thánh kinh là lời mời gọi tin, Thánh kinh là Lời Chúa sống động ngỏ với những thính giả cụ thể để họ chọn lựa tự do dựa vào Người. Thánh kinh muốn chứng tỏ cho chúng ta sự tiếp nối của thánh ý Thiên Chúa mà sự thực hiện được loan báo từ lâu.

Giuse thấy lời tiên tri loan báo của Isaia được sáng tỏ, kể từ biến cố mà ông chấp nhận làm chứng nhân bởi đức tin sống động của mình. « Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai ». Matthêu đọc bản văn hy lạp, dùng chữ parthenos thay cho chữ do thái almah. Từ do thái almah có thể có nghĩa trinh nữ, nhưng thường là một thiếu nữ trẻ. Qua bản văn, rõ ràng Matthêu hiểu đây là parthenos, một trinh nữ.

Biến cố bất ngờ này của hồng ân Thiên Chúa, Ðấng ở với con người, trong lòng một trinh nữ, biến cố này đến làm sống lại ý nghĩa của một lời mà người ta không còn muốn chú ý tới nữa. Và như thế mọi người bó buộc phải thay đổi lối nói của nó, bởi vì người ta không thể chấp nhận đón tiếp Thiên Chúa trong xác phàm, và nhìn thấy Người mở gia tài ân sủng Thiên Chúa cho mọi dân tộc. Ðiều lúc này quấy rầy họ, đó là sự bùng nổ của mọi an toàn của mọi biên giới : Thiên Chúa đến với con người, Người đã thành công gặp được một nơi cư ngụ, và người biểu lộ rằng ơn cứu độ của người là công trình của ân sủng. Ðiều quan trọng ở đây, đó là kinh nghiệm của đức tin và của thực tại của hồng ân Thiên Chúa, kinh nghiệm của sự kết hợp của người với « công trình do tay người nắn đúc », kinh nghiệm của lời mời gọi khẩn thiết sám hối không ngừng của người.

Giuse đặt tên cho người là Giêsu, nhưng mọi người có thể gọi người và nhận ra nơi người là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Matthêu dùng động từ gọi ở số nhiều, khác với bản văn do thái của Isaia và bản dịch hy lạp. Và ông còn giải thích ý nghĩa của từ này. Ðấng cứu thế dấn sâu vào trong những tận cùng thống khổ của con người để gieo vào đó tình yêu sẽ dẫn tới sự phục sinh. Là Ðấng cứu thế, đối với Thiên Chúa, là thể hiện chính mình, một tình yêu trao ban : là chính mình cũng chính là sống với, với con người, bởi một mối tương quan vốn nối kết các ngôi vị của ba ngôi. Ðể mình được cứu độ, đối với con người, đó là đón nhận Thiên Chúa Ðấng vượt qua mọi giới hạn và từ khước chính mình mọi biên giới, dù là những biên giới thánh thiêng nhất, nhân danh một tình yêu gắn bó với mọi người và với mỗi người, nhân danh lòng tin vào Thiên Chúa.

Giuse chính thực là người công chính bởi đức tin, người con thực sự của Abraham. Ông nhận lấy lời hứa (Mt 1,20-21 ; x.St 17,19), ông từ khước mọi đòi hỏi của phụ hệ theo xác phàm. Giuse đặt tin tưởng vào Thiên Chúa và vào gia nghiệp của Người dành cho mọi dân tộc, ông đón nhận vào nhà mình Ðức Maria, và nhà ông trở nên nơi cư ngụ của Thiên Chúa : ông là người của Thánh Thần Ðấng thực hiện công trình của Người trong lòng của trinh nữ, và chỉ chờ đợi con người sự vâng phục của đức tin. « Bởi Thánh Thần Thiên Chúa... Nước Thiên Chúa đã đến với anh em » (Mt 12,28).

Phần đích thực của con người vào công trình tạo dựng mới đó là phần của Giuse. Theo hình ảnh Chúa Kitô, Giuse đã từ khước chính phần riêng của mình, đã mạo hiểm chấp nhận : không làm điều gì thuộc con người, để Thiên Chúa hành động tất cả thay thế mình, như thế sự cộng tác của người vào thảm kịch Nhập thể được thành tựu hữu hiệu. Ông hoàn toàn đứng về phía Thiên Chúa, đó chính là phần của ông : đón nhận ơn cứu độ của chính Thiên Chúa và loại trừ mọi cám dỗ muốn tự mình hành động. Giuse là cha của một người con hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và chỉ thuộc về Thiên Chúa : trẻ này là Ðức Kitô (Mt 1,16), Người mà toàn thể con người đều là Thiên Chúa, đều do Thiên Chúa đến độ mà những người do thái không thể ngờ được. Giuse biết rất rõ là về mặt nhân loại, ông không có gì trong việc giáng sinh của Người. Nhưng ông là người công chính và chấp nhận làm cha như là một quà tặng và một lời mời gọi của Thiên Chúa. Vào mỗi giai đoạn của sứ vụ của người con này : như việc trốn sang Ai cập và việc trở về Israel, việc định cư tại Nazarét. Vào mỗi lúc như vậy, Giuse thấy mình được trao phó cho sứ mạng gìn giữ « con trẻ và Mẹ người ». Maria không còn được gọi là vợ của ông nữa, Bà hoàn toàn liên hệ với con là Giêsu. Giuse biết rõ là, do bởi sự vâng phục của mình, ông đi vào trong sự thân mật với Thiên Chúa, Ðấng là tình yêu. Giuse là con người của Thiên Chúa, con người của Thánh Thần.

            Con trẻ và Mẹ Người,

             Những trích dẫn Cựu ước trong phúc âm Matthêu làm vang lên Tin mừng trong lòng Giao ước thứ nhất và chứng thực lòng thành tín của Thiên Chúa. Giuse có vai trò đón nhận hồng ân dành cho mình bằng cách dành chỗ trong đời sống của mình cho sự bất ngờ của Thiên Chúa. Nếu ông biến mất khỏi Tin mừng thời thơ ấu trong hai đoạn sau đó về tường thuật ba vua, thì ba vua biểu lộ tâm tình sẵn sàng vốn được Thiên Chúa vẫn đòi hỏi nơi Israël. Tường thuật về ba vua có thể là tiếng vọng lại của một truyền thống thứ hai được ghi chép lại bởi thánh sử, nhấn mạnh lòng tin của ba vua đối nghịch với sự cứng tin của những người do thái.

Ba vua, hay ba nhà hiền sĩ là nhưng người ngoại đến từ Ðông phương theo dấu ngôi sao. Ðối với những người do thái, dấu chỉ Ðấng cứu thế này phát xuất từ lời sấm của Balaam : vua người Moab đã xin vị tiên tri nguyền rủa Israël đang đe dọa lãnh thổ của ông. Nhưng Thiên Chúa lại khiến ông chúc lành cho trại binh của dân ông : « Ðẹp thay dinh trướng của ngươi, hỡi Giacóp, và lều trại của ngươi hỡi Israël. Như những dòng suối chúng trải dài, như những thuở vườn dọc bờ sông, như lô hội Giavê vun trồng, như bá hướng gần bên bờ nước ! (...) Tôi thấy một điều nhưng không phải cho lúc này, Tôi ngắm một sự, nhưng không phải gần bên : Một ngôi sao mọc lên từ Giacóp, một vương trượng xuất từ Israël, người đã đập tan màng tang Moab và sọ con cái Sét ». (Ds 24,5-17). Bản văn hy lạp kết hợp vị vua tương lai với ngôi sao mọc lên và chiếu sáng mọi dân tộc.

            Thánh vịnh 72 hát bài ca lên Giêrusalem của những vua ngoại quốc đến phủ phục trước vị vua Israël. Và trong nhiều trích đoạn Isaia, người thấy thấy Giêrusalem, núi Sion, lôi kéo theo ánh sáng của mình những của cải và sự thán phục của mọi dân tộc (Is 2,2-3 ; 45,14 ; 60,1-6). Giêsu là Salômon mới, Vua-messia, mà người ta đến để tôn thờ từ phương xa trong khi những người gần gủi lại khinh bỉ. Matthêu trích lời tiên tri Isaia để thuật lại buổi đầu sứ vụ của Gioan tẩy giả và Ðức Giêsu : với Ðức Giêsu, cuộc vượt qua mới và quyết định được hoàn tất, khi con cái Thiên Chúa tản mác trở về, gặp lại những dân tộc mà cho tới lúc đó còn trầm luân trong bóng đêm sự chết.

Cuộc viếng thăm này đã xảy ra ở Bêlem, những nhân vật lớn lao đến từ Ðông phương để gặp Hêrôđê, và đã đến bên « con trẻ và Mẹ người ». Họ đến để dâng cho vị vua mới sinh, con Ðavít, gợi nhớ lại Salomon với mẹ của mình ở bên cạnh (1 V 2,19). Ba vua từ phương Ðông đến, nhận ra người và qùi gối sụp lạy người và mẹ người. Thánh Matthêu nhìn nhận sự ứng nghiệm của những lời tiên tri. Những vị vua này, những người Khanđê, tượng trưng cho dân ngoại bị khinh ghét, được lôi kéo bởi dấu chỉ trên trời, và họ ra đi như xưa kia Abraham, để hướng về núi Sion. Nhưng họ được sai đến từ xa và phải đáp lại lời sấm tiên tri mà Matthêu soạn lại để thích ứng với thực tại, với hồng ân Thiên Chúa. Lời tiên tri được hoàn tất, vượt lên trên cách nói văn từ, và ngôi sao lại tái hiện, dấu chỉ thiên quốc của trẻ thơ.

« Maria mẹ người », ở bên cạnh vua người do thái, như người mẹ xưa kia vẫn được nêu ra bên cạnh những vua con của Ðavít. Trong khi mà những vị vua này gắn liền với tổ tiên bằng phổ hệ nam giới, người mẹ đứng đó để nhắc nhở rằng họ có được sự sống từ nơi khác, từ hồng ân từ trời. Maria, đến lượt mình, cũng giữ vai trò này và còn vượt xa hơn nhiều : Giuse, con Ðavít, đã biến mất khỏi diễn đàn. Chỉ còn lại Ðức Maria, dấu chỉ chứng nhận rằng người con này được âu yếm ban cho người do thái và cho dân ngoại biết đón nhận người trong đức tin ; Người là hoa trái của trái đất và hồng ân từ trời.

Maria đảm nhận vai trò của những tín hữu đích thực, đón nhận và chia sẻ hồng ân Thiên Chúa. Mẹ không có gì cho riêng mình, nhưng tự để mình cho Thiên Chúa chọn lựa và quyết định. Chúng ta có thể nói về Mẹ điều được nói về Bêlem trong lời tiên tri Mikhê 5,1 : « Hỡi ngươi, hỡi Bêlem Êphrata, nhỏ bé trong trăm ngàn phần đất Giuđa, từ nơi ngươi sẽ xuất hiện Ðấng thống trị Israël ». Với Phúc âm, chúng ta nghe chân lý còn như được che khuất trong Cựu ước. Matthêu nối kết lời tiên tri Mikhê với lời công bố của các chi tộc Israël đến Hébrôn để phong Ðavít làm vua. Những người do thái, cũng như các tín hữu, vốn thường quen đọc sách thánh, nhưng không thể chấp nhận sự thực hiện của sách thánh luôn mới mẻ, có thể hoàn tất Thánh kinh đồng thời vượt qua và đảo lộn những từ ngữ được ghi chép trong sách thánh.

Việc thờ lạy hài nhi của các Vua từ đông phương đến làm bộc lộ sự bất tín của Israël. Ðiều này, nhiều thế kỷ trước đã làm cho Israël phải chịu lưu đày ở Babylone mà dân chỉ có thể trở về lại đất hứa nhờ vào sự can thiệp mạnh mẽ của chính Thiên Chúa. Và giờ đây Matthêu sẽ nhận ra, trong những thống khổ mà hài nhi Giêsu phải chịu, lời loan báo sự xuất hành thực sự, lời loan báo Vượt qua sẽ cho phép những tín hữu sau cùng đạt tới sự Sống chân thực.

Các vua đã ra đi « theo con đường khác ». Israël sẽ ở lại mãi trong đêm đen chăng ? Nhưng ông đã là người sẵn sáng trong đêm tối đó, ông « đem con trẻ và mẹ người » trốn sang Ai cập để trốn thoát đêm đen không lối thoát đó đang đe doạ nuốt chết hoa trái của Lời hứa. Ông làm cho Thiên Chúa thực hiện được sự giải phóng nhưng với giá của sự đau khổ. Nhưng thảm sát sau đó của Hêrôđê lập lại những thảm sát trẻ em người do thái xưa ở Ai cập, khi đó Môisen được cứu thoát khỏi nước để trở nên phương thế cứu độ dân Chúa. Nhưng điều này không thể thực hiện mà những con đầu lòng của người Ai cập không phải chết. Trong Phúc âm, những lời than khóc do cuộc thảm sát những trẻ thơ vô tội ở Bêlêm làm vọng lại những lời than khóc của lịch sử, và đặc biệt những lời than khóc đi trước cuộc thử thách lớn của thời lưu đày (Gr 31,15) : khi đó toàn dân phải chuẩn bị để đi lưu đày.

Nhưng những tiếng khóc than của Rakhen ở Bêlem phải ngưng, bởi vì thời gian Giao ước mới phải tới. Người con yêu dấu của Cha đã trở về Israël, trong miền đất Galilê, đất lai tạp nhằm để giúp khai sinh một đoàn dân tín hũu mới « từ Ai cập, Ta đã gọi con Ta ». Người mẹ được nhắc tới hai lần với con trẻ trong lần hồi hương này. Bà là người bạn trung thành của hồng ân Thiên Chúa, trong cuộc Vượt qua từ đất Ai cập, Bà là người nữ mà đức tin âm thầm loan báo chứng từ cuối cùng của hai Maria khác, cũng hiện diện dưới chân thập giá và ở bên ngôi mộ trống.

Vào cuối một giai đoạn cũng như khởi đầu việc nghiên cứu của chúng ta, chúng ta đón nhận một sự hiện diện, chúng ta đón nhận ý nghĩa của nó. Ðây không phải chỉ là một kinh nghiệm chủ quan, nhưng đây là sự hiện diện của một tình yêu, môt đòi hỏi của lời mời gọi. Hồng ân tạo dựng, cũng như sự tha thứ cứu độ chúng ta, đó không phải là những thành quả của trí tuệ chúng ta, nhưng đó là dữ kiện đi trước chúng ta và lôi kéo chúng ta, một dữ kiện mang một khuôn mặt : chúng ta có muốn đón nhận Khuôn mặt Thiên Chúa không ? Không phải như khuôn mặt của một người rao giảng xác tín hay của một anh hùng mẫu mực, nhưng như là khuôn mặt của một trẻ thơ và của một người nô lệ, chiến thắng chỉ nhờ vào sức mạnh của Tình yêu. Người nô lệ bị đóng đinh này là Người Phục sinh vào sáng ngày Vượt qua, trẻ thơ trong tay người mẹ này là Con vĩnh cửu của Thiên Chúa. Người được sinh ra do một trinh nữ bởi sức mạnh của Thánh Thần, người đồng bản thể với Thiên Chúa, đến ban tặng cho trái đất chúng ta thực tại của một Ðời Sống mạnh hơn sự chết. Chúng ta đã có kinh nghiệm Hiện xuống, chúng ta đã lãnh nhận Thánh Thần, và chúng ta hiểu trong ánh sáng những bất bình thường của cuộc sống và của tuổi thơ Ðức Giêsu : hành trình của Người hướng về thập giá xuyên qua những phép lạ và những lời nói đầy uy quyền, sự giáng sinh của Người, vừa nghèo khó vừa kỳ diệu, biểu lộ Hồng ân Thiên Chúa. Lý trí chúng ta đón nhận Mầu nhiệm và đặt mình lắng nghe Lời được truyền lại cho chúng ta, một Lời ân sủng mời gọi sự ưng thuận của đức tin chúng ta.

“ÐẦY ÂN SỦNG” THEO TIN MỪNG LUCA,

 Tin mừng theo Luca, và nhất là Tin mừng thời thơ ấu, đưa chúng ta đi vào sự năng động đón tiếp mầu nhiệm : Thiên Chúa tự trao ban, Thánh Thần Thiên Chúa được ban tặng cho chúng ta, niềm vui đấng cứu thế tràn ngập tâm hồn. Thánh Thần và niềm vui là những quà tặng được mang đến với Maria, và qua Mẹ, tới toàn thể Israël, tới mọi người ngay từ đầu những trang tin mừng. Ơn cứu độ được thực hiện trong một năm đầy ân sủng do Thiên Chúa ban tặng, năm hồng ân được trở nên thời gian bình thường trong đời sống chúng ta.

Trong những trang đầu tiên của tin mừng, thánh Luca làm chứng về sự ngạc nhiên của  những môn đệ đầu tiên, những người nghèo của Israël đã đón nhận Ðấng cứu thế, theo gương Ðức Maria, trinh nữ Nazarét. Nhưng sự đón tiếp này không phải không có xâu xé. Cần phải canh thức nhiều đêm dài để có thể nghe lời loan báo của thiên thần, và như những mục tử, phải lên đường: Ðấng cứu thế hôm nay được giáng sinh trong thành Ðavít, các ngươi sẽ gặp người trong chuồng bò. Cần phải chấp nhận mối liên hệ giữa ca đoàn thiên thần hát tôn vinh và sự dịu dàng của Maria với Giuse đang ở bên hài nhi. Tất cả tin mừng thời thơ ấu của Luca được định hướng về Giêrusalem, nơi Maria, khuôn mặt của Israël mới, nhận lời loan báo mủi gươm đâm thâu tâm hồn mình.

Tin mừng của Ân sủng là tin mừng Thập giá và Phục sinh. Maria là người trước tiên học biết kinh nghiệm này, và Maria-Giáo hội, cũng đầy ân sủng, từ nay sống hoàn toàn hướng về ngày thứ ba, ngày của gặp gỡ vĩnh cửu trong sự phó thác hoàn toàn của Tình yêu.

Tất cả là ân sủng, tất cả là hồng ân, Maria – Israël học khai mở cho sự đột nhập của Thánh Thần đổ tràn tâm hồn Mẹ và làm nổ tung những chân trời giới hạn của Luật do thái: lời hứa cho Abraham được thực hiện trong những ngày này khi mà hạnh phúc của Thiên Chúa được chia sẻ cho những người nghèo, những người ngây ngất trước hạnh phúc của người thiếu nữ Nazarét, người đầu tiên giữa những tín hữu.

Vận hành của Tin mừng thời thơ ấu là vận hành của toàn bộ Tin mừng, hướng về Giêrusalem, hướng về cuộc gặp gỡ Thiên Chúa. Những người nghèo đón nhận Tin mừng, và mọi thế hệ có thể tự nhận ra mình nơi một gia đình mới này là Maria và Giuse đang tiến vào “Thiên đàng”, một thiên đàng vô cùng đẹp hơn thiên đàng thời nguyên thủy; từ nay, sự phối hợp vợ chồng và sự phong phú của tình yêu không còn là hành vi của người nam tuân theo luật Chúa; nhưng chính Thiên Chúa thông ban chính Vinh quang của ngài và trao tặng đời sống thân mật của ngài cho con người, cho một người nữ thấp hèn trong nhân loại, Maria. Thiên Chúa tự trao ban chính mình cho một loài thụ tạo mà Ngài đã ban dồi dào Thánh Thần, ban cách vô hạn. Từ nay Thiên Chúa và con người sống với nhau, cách trong suốt, trong sự tin tưởng và chia sẻ Tình yêu.

Giao ước mới,

Khaire, kekharitômenè

Nazarét miền Galilê, khung cảnh bình thường của đời sống chúng ta, được mời gọi trở nên nơi ở của Thiên Chúa, đền thờ đích thực, nhà của Cha. Tin mừng thời thơ ấu, huớng về Giêrusalem nơi mà ân sủng được tuôn tràn và thông ban cho đời sống thường ngày của Nazarét, tin mừng này được xây dựng trên sự tương phản thường xuyên mời gọi chúng ta đi qua cùng với Maria từ giao ước cũ tới giao ước mới.

Hai bài tường thuật truyền tin dẫn tới hai cuộc sinh hạ, bài truyền tin cho Zakharia ở đền thờ tương phản với bài truyền tin cho Maria ở Nazarét, cũng như giữa Gioan tẩy giả với Ðức Giêsu; vị tiên tri loan báo Thiên Chúa đến trong Vinh quang khiêm nhường; Ðấng Thánh, hòm bia Giao ước, đã khởi sự lên đường trên những nẻo đường con người. Việc giáng sinh của Ðức Giêsu có thể được đọc như cuộc truyền tin thứ ba, dành cho những người nghèo ở Israël, bị loại trừ khỏi Ân sủng: ân sủng này từ nay không còn có biên giới nữa, Ơn cứu độ của Thiên Chúa chiếu toả trên mọi dân nước: và như thế vinh quang cuả dân Chúa chọn được tỏ lộ.

Việc giáng sinh của Ðức Giêsu vì thế được xác định trong khuôn khổ một cuộc kiểm tra khắp cả thiên hạ, mọi người phải trở về nguyên quán của mình, đặc biệt là nhà và dòng dõi Ðavít, trở về Bêlem. Chính nơi đó mà Thiên Chúa tự trao ban, và ban tặng cho nhân loại sự hòa giải và bình an, cho trái tim của cha ông trở về với con cháu, và dân tộc có thể đón nhận Chúa.Với sự giáng sinh của Ðức Giêsu, mang lại hoà bình, hoàn tất những lời các tiên tri, và việc phụng thờ đích thực được cử hành trên măt đất cũng như ở trên trời. Gioan, vị tiên tri cuối cùng, tiến lên trong quyền lực của Êlia để loan báo sự biểu lộ của Ðức Giêsu, trong khi đó những sự long trọng của Ðền thờ, đối với chúng ta xem ra chỉ là hình bóng và khuôn mặt của việc phụng thờ đích thực, được sống trong niềm vui và sự phong phú của Thánh Thần.

Vào đầu trình thuật của mình, Luca đưa vào diễn đàn một vị tư tế tên là Zakharia. Ông mang tên của vị tiên tri cuối cùng bị giết trong đền thờ “giữa bàn thờ và thánh điện “ (Lc 11,51). Vợ ông cũng thuộc dòng dõi tư tế. Cả hai là những người công chính, và đây cũng là lúc Zakharia dâng hương ở đền thờ theo phiên của mình. Họ sống giữa lòng của do thái giáo, là Ðền thờ và họ tuân giữ Lề luât một cách không có gì chê trách, nhưng họ không có con. Và sứ thần hiện ra, ở bên phải bàn thờ, đáp lại lời cầu nguyện của họ: vợ ông sẽ có con, một người đầy thánh thần ngay từ lòng mẹ, một người được thánh hiến cho Thiên Chúa.

Việc truyền tin cho Maria cũng có những nét giống và tương phản với truyền tin cho Zakharia. Tháng thứ sáu sau khi Êlizabét được mang thai, sứ thần Thiên Chúa được sai đến với Maria ở Nazarét, một làng vô danh ở Galilê, người trinh nữ, được đính hôn với Giuse. Sứ thần không gọi tên bình thường của Maria, nhưng gọi nàng bằng một tên mới, gần gủi với Thiên Chúa: “Vui lên, hỡi đầy ơn phúc, Chúa ở cùng bà”. Maria là người thiếu nữ thời cuối cùng được tiên tri Sophonia loan báo, nàng đón nhận Thiên Chúa cứu độ trong mình (So 3,14-18). Maria là nơi chứa đựng niềm vui Thiên Chúa, được diễn tả nơi lời chào của sứ thần. Ðây quả chính là niềm vui mà các tiên tri đã tiên cảm. Nơi Maria có ơn cứu độ cư ngụ một cách cụ thể nhất. Thiên Chúa cứu độ, Ðấng ngự trong Ðền thờ, giữa lòng dân người (So 3,16), giờ đây Maria sẽ “mang thai Người trong lòng mình.

Nơi Maria giờ đây có ơn cứu độ một cách cụ thể nhất. Thiên Chúa cứu độ, Ðấng phải ở trong Ðền thờ của Ngài, ngự giữa dân Ngài (So 3,16), giờ đây ngự nơi Maria, Maria sẽ thụ thai, sẽ “cưu mang Thiên Chúa trong lòng mình” (Lc 1,31). Như thế, chúng ta ở trong bối cảnh viên mãn, hoàn tất. Ngay trong lời truyền tin cho Zakharia, Gioan đã được nói là “đầy Thánh Thần” ngay từ trong lòng mẹ, rồi đến phiên những người nữ như Êlisabét, Maria mang thai, sinh hạ, đến những ngày làm lễ cắt bì, dâng con trong đền thờ theo đúng những qui định theo Luật dạy. Ở bên trong bối cảnh này, chúng ta tham dự vào sức sống của những lời tiên tri: Gioan, người đầu tiên, tràn đầy vui mừng từ trong lòng mẹ, sau đó là Mẹ bà Anna và cả cha là Zakharia cũng đều đầy tràn Thánh Thần. Nhiệm cuộc của Cựu ước được dự phần vào ân sủng đang thực hiện nơi Ðức Maria để thông truyền cho Israel và cho thế giới.

Chúa ở cùng bà.... Thánh Thần đến trên bà,

Trong trường hợp của Maria, thánh ý Thiên Chúa luôn là ưu tiên. Nhưng chính Maria là người đón nhận thánh ý Thiên Chúa và để cho Thiên Chúa thực hiện đến cùng dự định yêu thương của Người. Maria đã để cho Thánh Thần chuẩn bị mình với sự vâng phục hoàn hảo. Mẹ sẽ mang thai, sinh con trai, người sẽ nên “cao trọng”. Maria đã được đầy tràn ân sủng để xứng đáng với sứ vụ làm mẹ này. Ðối với Maria, được đầy ân sủng không có nghĩa một ưu tiên cá nhân, nhưng là hoàn tất vai trò của mình trong ý định Thiên Chúa.

Maria phải để cho Thiên Chúa cắm rễ trong mãnh đất Israël để chia sẻ sự sống của Người với mọi người. Maria gồm tóm sứ vụ của dân người, và khai mở sứ vụ của Giáo hội, trao tặng Giêsu cho thế giới, trao tặng Người như Con chí ái của Cha, Con Thiên Chúa. Sứ vụ của Mẹ là sứ vụ mẫu tử, hoàn toàn tự xoá mình trước sức mạnh của Thánh Thần. Vì thế khác với Zakharia, Maria không sợ hãi trước sự xuất hiện của sứ thần, Mẹ bối rối bởi lời chào, bởi mầu nhiệm Thiên Chúa ở nội tâm chính con người của Mẹ: chính trong Mẹ mà Thiên Chúa tự mạc khải và tự trao ban, như lời sứ thần Gabriel trả lời cho mẹ: “Chúa ở cùng bà”. Niềm ao ước của Gêđêôn xưa kia (Tp 6,13), khi được trao sứ vụ giải phóng Israël, giờ đây được thực hiện từng chữ. Thiên Chúa, Ðấng Emmanuel. Nhưng chân tính của con trẻ này, cũng như sứ vụ và hiến tế đòi hỏi, chỉ được mạc khải cho Maria lần hồi.

Sứ điệp được đào sâu và soi sáng để diễn tả những gì Mẹ đang sống: “Thánh Thần sẽ đến trên bà, và quyền năng Ðấng tối cao sẽ phủ bóng trên bà”. Nơi ở khiêm tốn của Nazarét được đầy tràn vinh quang Thiên Chúa. Trong khi tư tế Zakharia đi vào Ðền thờ với lời cầu nguyện của mình và đi ra câm lặng, Ðức trinh nữ tiếp nhận sự viếng thăm của Thiên Chúa đến trên mình để làm đầy thánh điện của Người và khai mở sứ vụ của mình: Mẹ là hòm bia mới được Thiên Chúa rợp bóng (Xh 40,35), Mẹ là Lều hội ngộ và mang Thiên Chúa cho thế giới. Những hiến lễ ở đền thờ nay thấy niềm hy vọng mà những hiến lễ này biểu lộ đã đến: Ðấng thánh được sinh ra nơi Maria. Sứ thần Gabriel loan báo sự hoàn tất của lời tiên tri đã nói với Daniel (9,24): và khi Ðức Giêsu được cha mẹ đưa đến đền thơ, người sẽ mang đến đây sự thánh thiện, sự hiện diện thần linh cho nơi này, đã bị hư hại nhiều bởi sự vô ơn của loài người. Và Người hiện diện lúc này nhờ thân thể của người nữ Maria đón nhận sự hiện diện của người. Thánh Thần xuống trên Giêsu và chứng thực tử hệ thần linh của người nơi phép rửa (Lc 3,22) và khi biến hình (9,34), Thánh Thần đốt cháy môi miệng và tâm hồn các môn đệ ngày lễ ngũ tuần. Thánh Thần Thiên Chúa, cũng là Thánh Thần của Ðức Giêsu bắt đầu bao phủ nơi ở của Người nơi Maria.

Chúng ta không nhìn nơi Maria và Zakharia hay Êlisabét là sự đối kháng của hai giao ước, nhưng đúng hơn là vận hành từ giao ước này tới giao ước kia, một vận hành của Thiên Chúa tới con người mà từ lâu Người đã chuẩn bị.  Trong những dị biệt giữa hai lời loan báo, cần phải ghi nhận là Zakharia là tư tế, ông là người nam: chính xuyên qua mầu nhiệm cuộc sống được người nữ cưu mang mà ông được mời gọi đảm nhận vai trò tiên tri, bằng cách khẳng định tên Gioan dành cho con của ông và bằng cách chúc tụng Thiên Chúa Israël. Chính Giuse cũng chỉ đảm nhận vai trò làm cha của mình bằng cách đón nhận mẫu tính của người vợ mình, bằng cách giúp đỡ cho người vợ này chu toàn sứ vụ của mình.

Một người duy nhất, hoàn toàn sẵn sàng cho Thiên Chúa ngay từ đầu của Giao ước mới sẽ là Ðức Giêsu, người con một rất yêu dấu của Cha: ban đầu là một hài nhi, và sau cùng là người bị đóng đinh. Phải nhân loại phải chấp nhận chịu “câm lặng” (Ez 16,63)[5] để đi lại con đường Giao ước và bước vào mầu nhiệm hôn lễ, bởi ân sủng được ban tặng cho người Thiếu nữ Sion mới. Nhân loại phải đi lại con đường của những người nghèo, con đường của Maria, tức là trước hết nhìn nhận con đường của Thiên Chúa nơi những người nghèo của Người, con đường của Thiên Chúa nơi Maria. Chính vì thế, trước khi đào sâu ý nghĩa của thái độ của Maria trong lời đáp trả của Mẹ cho lời loan báo của sứ thần, chúng tôi muốn theo vận hành của Ân sủng đã lôi kéo Mẹ ngay tức khắc lên đường: Mẹ phải mang sự sống của Thiên Chúa, Mẹ là người cưu mang và chuyển tải chính đời sống Thiên Chúa.

Mẹ của Chúa tôi,

Ở đây chúng ta đang ở trọng tâm của niềm hy vọng Israel, ở trọng tâm của Lời hứa Thiên Chúa mà việc thực hiện vượt xa vô cùng sự chờ đợi của con người. Thiên Chúa xâm chiếm tâm hồn những người nghèo như xưa kia Người chiếm ngự tâm hồn của cha ông: vị vua cứu thế sẽ ngự vào Ðền thờ của Người. Hòm bia của người đang trên đường của xứ Giuđa. Ðavít nhảy lên vì vui mừng trước hòm bia: “Làm sao có thể nào hòm bia Thiên Chúa tới nhà tôi” (2Sm 6,9). Bởi vì đây chính là Thiên Chúa ở với dân người. Dấu nhấn của Luca trên sự hiện diện của Thánh Thần xâm chiếm tâm hồn Mẹ Người như Ðền thờ của Người, muốn dẫn đưa chúng ta đến chỗ đón nhận Thánh ý tình yêu mầu nhiệm của Người: quả thực Thiên Chúa tự trao ban chính mình. Ngày nay cũng như hôm qua, vị tiên tri nhảy lên vui sướng khi Người đến với mình.

Thực vậy, thánh sử Luca muốn nhấn mạnh rằng Thiên Chúa không giả vờ. Luca thuật  lại sự ngạc nhiên của dân Israël trước sự biểu lộ quyết định này: làm sao có thể hy vọng hơn được nữa, chính Thiên Chúa đến bằng xương thịt. Các thiên thần báo tin sự giáng sinh của Kitô Chúa trong thành Ðavít cho các mục tử, Êlisabét reo lên vui sướng vì được Mẹ Chúa tôi tới viếng thăm. Tất cả những điều này nhằm nói lên là Thiên Chúa siêu việt đang đến mạc khải lòng thương xót của Người nơi người Con một của Người.

Với hòm bia Thiên Chúa, sự hiện diện của Thiên Chúa vẫn còn là sự hiện diện ám chỉ, và sau cùng hòm bia biến mất. Với Maria, được Maria cưu mang, Người đã chọn một người mẹ và trở nên hữu hình, sờ tới được. Nếu Luca đề cao sự hiện diện cũng như vai trò của Maria, chính là để chúng ta thấy được Thiên Chúa đã muốn trao ban chính mình tới mức nào: quả thực Người trao ban Thánh Thần cho con người. Không phải người muốn tạo dựng và cứu độ thế giới từ xa, nhưng người nhập thể, tự hạ và người đã hoàn tất cũng như gặp được mãnh đất đón nhận người và cho phép người đến làm người, trao ban không dè giữ và không mong đáp đền.

Qua miệng lưỡi của một người trong hàng thụ tạo của Người, miệng một người nữ, Thiên Chúa thông truyền Thánh Thần của Người. Nơi Maria, do bởi ân sủng hoàn toàn phát xuất từ hồng ân Thiên Chúa và từ Thập giá của người Con một duy nhất của Người, sức mạnh của Thiên Chúa được tỏ lộ, được ban tặng cho Israel và cho Giáo hội là đoàn dân những tín hữu cũng là những con cháu của Abraham trong đức tin và là những người thừa tự lời hứa. Tất cả những ai nghe Lời Thiên Chúa và thực hành lời Chúa đều được trở nên những anh chị em và mẹ của Ðức Giêsu.

Ngay lập tức, chúng ta đón nhận toàn bộ mầu nhiệm, xuyên qua lời reo mừng của bà Elizabét,- “Mẹ của Chúa tôi”. Thiên Chúa tự trao ban cho con người như một trẻ thơ cho người mẹ của mình. Người đã thực hiện hoàn tất lời hứa ở với dân người. Từ nay, Người chia sẻ cho họ mầu nhiệm tùy thuộc trong tình yêu của người, Người ban cho họ sự tự do vô tận để yêu thương của Người.

Bài ca hôn lễ,

Càng lúc chúng ta càng tiến sâu, chúng ta càng khám phá nơi Maria sự viên mãn của hồng ân Thiên Chúa đến để kết hiệp với dân người và đáp lại sự chờ đợi của dân người, không phải dưới hình thức một sự hoàn tất trần gian, nhưng bằng một mạc khải mới mẻ và đảo lộn. Ba bài ca giữ nhịp cho tin mừng thời thơ ấu của Luca và làm dấu cho sự tiếp nhận công trình Thiên Chúa: bài ca Magnificat, được đưa vào trong trình thuật Thăm viếng, hát lên niềm vui của Maria, người thiếu nữ Israël, vào giai đoạn đầu tiên cuả việc Ðức Giêsu tiến về Giêrusalem, nơi gặp gỡ của Thiên Chúa với dân người. Ba tháng ở với Êlisabét làm cho bà sống lại thời gian hòm bia Thiên Chúa ở nơi nhà Obed Edom trước khi ra đi dứt khoát tới thành Davít (2Sm 6,11). Nhưng giai đoạn này là cần thiết, nó đánh dấu sự ưng thuận của người tín hữu với hồng ân dành cho mình; nó gợi lên niềm vui của Gioan khiến cho cha mẹ nói tiên tri và chúc lành, nơi Maria và trong hoa quả lòng bà, “Thiên Chúa Israël viếng thăm và cứu chuộc dân người.”

 Phải, lời hứa của Thiên Chúa cho Abraham được hoàn tất. Ánh sáng chiếu soi trong đêm tối cho mọi dân tộc (Lc 1,48.50.79). Nhưng bất hạnh thay, hồng ân Thiên Chúa kéo theo sự từ khước lạ lùng của những người đầu tiên đáng lẽ thừa hưởng hồng ân này. Con đường của Ðức Giêsu được những người bé mọn đón tiếp, sự hoàn tất của những lời hứa. Ngay từ đầu, Maria diễn tả và mang dự định của Thiên Chúa. Nơi Mẹ, Thiên Chúa đã gặp được hạnh phúc, Thiên Chúa đặt tất cả niềm vui của mình, Thiên Chúa được tán dương và nhìn nhận, Thiên Chúa có thể yêu mến.

 Bài ca của những người nghèo,

“Bấy giờ Maria cất tiếng nói.....” Tất cả Thánh kinh như bừng dậy trong giây phút này. Thiên Chúa lặng thinh để nghe tiếng của những người bé mọn, những người tin tưởng, tiếng của những người luôn giữ thinh lặng vì họ biết chờ đợi trong tâm hồn. Thiên Chúa vốn đã nói từ đầu, để cứu độ loài thụ tạo và nói cho loaì thụ tạo tình yêu của Người, cũng vừa nói lời cuối cùng, Người đã trao Lời người cho sự thinh lặng của tâm hồn một người nữ, hoàn toàn tự xóa chính mình, chính nàng sẽ diễn tả bí mật của Trái tim Thiên Chúa.

 Maria không đưa ra một diễn văn mới lạ. Lòng đầy tràn Thánh Thần, Maria sẽ gồm tóm sự chờ đợi và ước muốn mà Thánh Thần đã thúc đẩy nơi những người nghèo qua các thời đại. Maria nói lên lòng tin tưởng, lời ca ngợi và sự biết ơn khiêm nhường của Israël, Mẹ nói về Thiên Chúa, một Thiên Chúa vĩnh cửu vốn là hiến dâng hoàn toàn và đón tiếp tình yêu trong cuộc đối thoại giữa Cha, Con và Thánh Thần. Trong kinh Tán tụng Magnificat, Maria nói lên Thiên Chúa là Ðấng như thế nào, và Người diễn tả mình như thế nào, và làm sao Người có thể kết hiệp với loài thụ tạo trong lịch sử.

 Như thế, những xây dựng của con người, chính trị hay tôn giáo, đều xem ra không là gì cả khi chúng không phải là hoa trái của hồng ân Thiên Chúa. Người xây dựng Vương quốc và Ðền thờ trong trái tim của loài thụ tạo của người, đủ tự do để hạnh phúc trong sự nghèo khó của người, trong quyền năng ân sủng người. Kinh Magnificat không nói lên ân sủng cá nhân của Maria được mang trong lòng mình Ðấng cứu thế, Con Thiên Chúa. Không có một lời nào để nói về Giêsu và về mẫu tính của Trinh nữ. Kinh Magnificat là Lời của Thiên Chúa, làm những người nghèo của dân Chúa nhảy mừng vì vui sướng. Như thế, tâm hồn của Maria được tỏ lộ cho chúng ta: Mẹ là nơi ở, là lều hội ngộ giữa Thiên Chúa và những người nghèo trong Israël, Mẹ là Mẹ mà Thiên Chúa ưng chọn để được sinh ra giữa những người nghèo mà Thiên Chúa được nhận biết nơi họ.

 Người ta nhận thấy trong bài ca của Anna, Mẹ của Samuel, (1Sm 2,1-10), tổ tiên của kinh Magnificat: lời kinh này diễn tả thật tuyệt vời mọi hy vọng của những người nghèo. Nhưng ở đây, với việc Ðức Giêsu ngự trong lòng của Maria, người ta có thể nói là Thiên Chúa đã gặp những người nghèo và phó mình cho họ: Người có thể nhìn sự khiêm nhường của nữ tỳ người, nơi nữ tỳ này Người nhận ra chính mình, Ðấng đã muốn làm Tôi tớ của mọi người. Như thế, bởi tâm hồn và tinh thần của Maria tán dương Thiên Chúa, người ta thâm nhập vào trong lòng chính Thiên Chúa: Người vui mừng trong ơn cứu độ Người mang tới, Người là Thiên Chúa cứu độ. Maria làm cho chúng ta nhận ra trong lòng Thiên Chúa sự lớn lao trong tự hạ, họ được nối liền bởi tình yêu đặt niềm vui của mình trong Hồng ân.

 Maria vừa được chị họ Êlisabét ca tụng là diễn phúc. Diễm phúc bởi vì Mẹ đã tin, Mẹ cho thấy Mẹ hoàn toàn là đón nhận, theo hình ảnh của Con, khi tuyên bố phúc cho những người nghèo, chỉ trao phó thực tại của con người ngài: Người là người nghèo mà từ đời đời, được đón nhận trong Tình yêu. Maria ở nơi sâu thẳm nhất của sự khiêm nhường, và ở đỉnh cao những kỳ công của Thiên Chúa: đó cũng là một chuyện, Mẹ ở nơi sâu thẳm nhất, nơi cao nhất của tình yêu. Những kỳ công của công trình Tạo dựng và Xuất hành, kỳ công của sự thánh thiện của Thiên Chúa cứu độ, đạt đến đỉnh cao nơi sự nới rộng vô tận của lòng thương xót Người cho mọi thế hệ: Maria lập lại bài ca của những người nghèo để làm diễn tả bí mật của một Thiên Chúa tự tỏ mình khi Người tự trao ban trong khiêm nhường của người bé nhỏ.

 Sự vĩ đại và thánh thiện của Thiên Chúa được biểu lộ trong lòng thương xót, trong khả năng dấn thân của Người vì những gì là hư không, vì những người bé mọn đang cần đến sức mạnh của người, vì những người đói, những người khiêm nhường chỉ biết hy vọng vào Người. Kinh Magnificat loan báo những mối phúc, không phải như một sứ điệp cách mạng xã hội muốn tái lập một hệ thống phân phối của cải hoàn hảo hơn, nhưng như là sự tuôn trào của một suối nguồn mạnh mẽ phát xuất từ trái tim Thiên Chúa. Thiên Chúa là Ðấng mạnh mẽ ra oai quyền lực, bởi vì Người nhìn từ chính lòng trái đất này và Người đã giương cánh tay đến độ gặp được người nhỏ nhất trong đoàn dân những người nghèo. Maria chính là sự trong suốt của Trái tim Thiên Chúa.

Cuộc cách mạng này không tấn công từ bên ngoài vào những cơ cấu kháng cự lại, những cơ cấu này phá tan tành bởi sức mạnh lan tỏa của một sự sống mới. Người nghèo đã có thể ngay tức khắc bật lên tiếng kêu tạ ơn, bởi vì nó biết rằng mình được nhìn đến bởi cái nhìn tạo dựng và cứu độ. Mọi xa hoa sang trọng giả tạo của những người giàu, sự kiêu kỳ hãnh diện của những kẻ kiêu căng chỉ là hư không.

 Lời cầu nguyện của những người nghèo được nhận bởi Ðấng nhìn nhận Israël là con của người, chỉ với điều kiện là Israël muốn là hoa trái của lòng thương xót. Ðây chính là điểm nhọn của kinh Magnificat, nó vén tỏ cung lòng Thiên Chúa, được biểu lộ trong sự trìu mến ân cần của người phụ nữ nhỏ bé, hình ảnh của Israël, người thừa hưởng lời hứa Abraham: nếu cụ già này đã có thể trở nên cha những tín hữu, chính bởi vì ông đã mang trong mình mầm giống của sự ưng thuận sẽ triển nở trọn vẹn nơi người thiếu nữ Nazarét. Abraham, trong đối thoại với sứ thần đã được Zakharia tiếp nối, giờ nhường bước cho Maria đón nhận lời tuyên bố: “đối với Thiên Chúa không gì là không thể được”. Chúng ta cũng vậy, chúng ta phải chiêm ngưỡng và đón tiếp nơi Maria cách diễn tả tối cao của quyền năng Thiên Chúa: bài ca Magnificat, bài ca của những người nghèo mời gọi chúng ta lắng nghe một sự thinh lặng còn hùng hồn hơn, sự thinh lặng của Thiên Chúa mà quyền năng kỳ diệu thinh lặng, vào lúc quyền năng này hoàn tất kỳ công lớn lao nhất: Thiên Chúa tự trao ban trong xác thể.

 Thiên Chúa thinh lặng trong lòng một người nữ, người nữ này cũng xóa mình trong đoàn dân những người nghèo ở mọi nơi và mọi thời, một đoàn dân đông đảo những người nô lệ, những người khốn khổ trên khắp cùng nhân loại ở mọi thời đại: Thiên Chúa đã trao ban cho họ niềm vui lớn lao, niềm vui này có thể nổ tung lên, họ được nhìn nhận là dòng dõi của Abraham, từng người trong họ có thể nói là mình là người con duy nhất của lòng thương xót của Thiên Chúa. Giờ đây, Maria có thể trở về nhà mình. Israel đã gặp lại lời tiên tri, giờ đây, Israel đã nhận ra Ðấng mình phải loan báo. Sứ vụ của Maria được hoàn tất, cũng như sứ vụ của Zakharia ở đền thờ: chính là Maria đã giúp Zakharia và vợ ông đến chỗ làm cho họ có thể đón nhận hồng ân được ban cho họ là Gioan. Maria đem lại ý nghĩa cho việc phục vụ của đền thờ là loan báo cho Ðấng sẽ đến. Trước khi là việc phục vụ có tính xã hội và gia đình, việc thăm viếng của Maria với bà Êlizabét là một sứ vụ thần học. Maria là người mang Thiên Chúa.

Thiên Chúa đã viếng thăm dân người,

Tất cả Tin mừng thời thơ ấu đều đầy tràn niềm vui của Thánh Thần. Thánh Thần đã ngự trên Maria khi mang thai Ðức Giêsu, và rồi bởi Maria, được thông truyền cho Gioan trong lòng Mẹ, đoạn cho Elisabét, và sau cùng là cho Zakharia là người đã cất tiếng nói tiên tri như tiếng vọng lại lời kinh Magnificat. Sự thinh lặng của Thiên Chúa chôn vùi trong xác thể của nhân tính trào vọt lên thành hành động tạ ơn trong tâm hồn các tín hữu, bắt đầu từ Maria. Luca thấy quyền năng của Thiên Chúa cứu độ lan toả như những làn sóng đồng tâm khởi đi từ tâm hồn của Maria, người thiếu nữ Sion. Khởi đi từ điểm trong suốt tinh tuyền này, chính những người công chính làm chứng cho sự hoàn tất của giao ước: đối với họ đây là việc “chuẩn bị những đường lối” cho Chúa (Lc 1,76), bởi vì Người đã muốn khai mở “lòng thương xót” cho dân người, thông truyền ánh sáng của người cho những tội nhân, trao tặng sự sống và bình an của người cho những người còn nằm trong bóng tối sự chết.

Một cách rõ rệt, cụ già Simêon sẽ biểu lộ rằng ơn cứu độ vươn tới mọi dân tộc và phải “soi chiếu các dân tộc”. Chính ông cũng được tràn đầy Thánh Thần mà sự trẻ trung hiện ra trước mắt ông sau một cuộc đời dài trung tín. Anna, trinh nữ, vợ và góa phụ, luôn vâng nghe lời Thiên Chúa mà Bà hằng đêm ngày phục vụ trong Ðền thờ, từ nay thấy niềm hy vọng của mình được đầy tràn: bổng chốc Bà trở nên như người hôn thể rất trẻ trung đón tiếp trong trẻ thơ vừa mới đến này làm hôn phu của mình, đấng cứu độ của mình.

Chính qua đôi vợ chồng trẻ đang tiến lại này, Maria và Giuse, cùng với con trẻ của họ, chính Thiên Chúa đến mạc khải vinh quang của Người và mang lại bình an, tức là chính sự sống của người. Trong lòng Tin mừng thơ ấu, trình thuật về sự giáng sinh Ðức Giêsu trong thành Ðavít tạo nên như hạt nhân nền tảng của Tin mừng: những người nghèo được rao giảng phúc âm: Zakharia, Maria, những mục đồng. “Hôm nay ơn cứu độ”, “một trẻ thơ vừa được sinh ra cho các người, Người là Ðức Kitô, Ðức Chúa”. Còn phải nhận ra Người nơi trẻ thơ nằm trong máng cỏ này: Thiên Chúa muốn đi xuống tận cùng nơi thấp hèn nhất nơi mà con người nằm bên các loài vật, khi không còn có chỗ nào dành riêng cho Người.

Dấu chỉ nhận ra Ðấng cứu thế thực lạ lùng! Có lẽ các mục tử không thể nhận ra con trẻ nếu họ không được soi sáng và hướng dẫn bởi sự dịu dàng của Maria và Giuse. Một cách kín đáo, thánh sử đã giúp chúng ta nhận ra bức màn bao phủ trẻ thơ-Thiên Chúa và tỏ mình cho những chứng nhân đầu tiên: những khăn tả được thay thế bằng sự hiện diện của người cha và người mẹ. Chính trong sự khiêm nhường và niềm vui của một sự sinh hạ con người mà Thiên Chúa cứu độ đã tự trao ban như người đã tự để mình được nhận ra trong việc chia sẻ bánh và cá (Lc 24,30-35). Thiên Chúa tự để mình được phủ trong khăn tả cũng như người sẽ được bao bọc trong phần mộ. Nhưng thánh Gioan sẽ chỉ cho chúng ta Ðức Giêsu Phục sinh có thể thoát khỏi những khăn liệm ràng buộc thân thể Người để trao tặng cho các môn đệ chứng từ đầu tiên của đời sống mới của Người.

Maria đồng hành với sự thinh lặng của Thiên Chúa, Mẹ trao hiến sự toả sáng của ánh sáng Thiên Chúa, tiếng vọng cúa sự trao hiến của Thiên Chúa. Mẹ tự xóa chính mình để Ân sủng ngời sáng. Như thế, hồng ân của Thiên Chúa, ngay từ lúc biểu lộ ban đầu, đã tự để được nhận biết nơi sự khiêm nhường của người nữ tỳ của Người, người loan báo Ðấng cứu thế “hiền lành và khiêm nhượng trong lòng” (Mt 11,29), “tự hạ để vâng phục cho đến chết, và chết trên thập giả (Ph 2,8): “Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người và do bởi ân sủng của Ngài, đã ban cho Người danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu”. Vì thế Người có thể chia sẻ sự tộn vinh và ân sủng của Người cho những người khiêm nhường, những người chấp nhận tự hạ theo hình ảnh của Người, vì tình yêu (Lc 14,11; 18,14; x.1,52).

Nơi Maria, tiến trình phải buộc dân chúng từ khước mọi thuận lợi con người, mọi an ninh, dù là tôn giáo, để phó thác cho sự sống của Thiên Chúa tự thông ban cách nhưng không. Nếu kinh Magnificat lặp lại bài ca của Anna, mẹ của Samuel, hoa trái của ân sủng được trao cho người nữ hiếm muộn, đó cũng là mở ra cho Israël con đường tin tưởng: Thiên Chúa sẽ đưa những tín hữu thoát khỏi những ngõ cụt cũng như những bất hạnh của cuộc đời nếu như họ không tìm cách dựa vào những bảo đảm miễn cho họ khỏi phải liều mất tự do của mình khi đón nhận ân sủng trong mọi khoảnh khắc cuộc đời mình. Không phải những người con trai của thượng tế Êli, cũng không phải những người con trai của tiên tri Samuel, cũng không phải dòng dõi của Ðavít, có thể cứu được Israel, là dân nước “không như những dân nước khác: Israel chỉ phải tin cậy vào “lòng thương xót của Thiên Chúa”, và một cách rất cụ thể, vật lý nữa, vào hoa trái của lòng dạ của một người nữ, một trinh nữ, đã đón nhận và để cho ân sủng đi vào cuộc đời mình đến độ cưu mang ân sủng như một con người nhỏ bé, có thể tự hạ đến độ chết cái chết của người nô lệ trên thập giá. Maria là chứng nhân và là mẹ của Ân sủng, đầy tràn ân sủng, đến nói cho mọi người là Thiên Chúa thực sự đã tự trao ban và không ngừng trao ban, thông truyền cho nhân loại đến độ thấp hèn nhất để không ai có thể nói mình bị loại khỏi Nước Trời. Thiên Chúa đến mặc sự yếu hèn nơi Maria để mặc cho chúng ta quyền năng của Người.

VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Mẫu tính thần linh: Mẹ của Ðức Giêsu.

Không bao giờ chúng ta nghiên cứu Ðức Maria vì chính Mẹ: Mẹ hoàn toàn liên hệ tới công trình tạo dựng và cứu chuộc vốn là đối tượng của Mạc khải. Ðiều quan trọng đối với Thiên Chúa, đó là yêu thương, yêu thương cách vĩnh cửu trong lòng mầu nhiệm Ba ngôi. Ðiều quan trọng đối với chúng ta, đó là tham dự vào tình yêu Thiên Chúa, bởi vì đó chính là đề nghị mà Ngài đề nghị với chúng ta bằng cách mời gọi chúng ta hiện hữu. Nơi gặp gỡ, giữa con đường Thiên Chúa và con đường của con người, đó là một người, Ðức Giêsu Kitô, Thiên Chúa và Người. Nơi Người, loài thụ tạo được tạo lập trong tương quan với Thiên Chúa, loài thụ tạo này được thành tựu, được cứu độ. Nó là nút thắt của tôn giáo. Tất cả mọi cái còn lại sẽ liên hệ tới Người.

Mọi cái còn lại, và ban đầu là Maria, chỉ xuất hiện trong Tân ước như là “Mẹ của Ðức Giêsu”, trong cuộc giáng sinh của Người và trong cuộc sinh hạ Giáo hội, ở đầu và ở cuối Tin mừng Gioan, trước khi Ðức Giêsu hai lần trao tặng cho Mẹ danh hiệu “Bà”. Nhưng nếu Ðức Giêsu liên hệ cách sinh tử đối với chúng ta, không chỉ như một người hướng đạo hoặc như một mẫu gương, không chỉ như một tiên tri (như Hồi giáo nhận Người như thế), chính bởi vì Người dẫn đưa hiện hữu của chúng ta vào trong hiện hữu đích thực, trong hiện hữu của Thiên Chúa. Chính bởi vì Người quả thực là Thiên Chúa, một Thiên Chúa tự hạ thực sự đến độ làm người để thực sự nâng con người lên tới Thiên Chúa. Nếu không có sự khai mở này, sự khai mở thực sự, cá vị của Thiên Chúa cho con người, chúng ta mãi mãi là những người xa lạ đối với Thiên Chúa, xa lạ đối với Sự sống chân thực, chúng ta mãi mãi chỉ là bọt bèo.

Tính chất độc đáo của Kitô giáo hoàn toàn hệ tại hồng ân này của Thiên Chúa cho con người, một hồng ân mà không có loài trung gian nào có thể thực hiện được. Tất cả mọi mầu nhiệm kitô giáo đều liên hệ tới hồng ân này của chính Thiên Chúa. Nếu Ðức Maria liên hệ tới chúng ta, chính là vì Ðức Maria, do bởi chính con người của Mẹ liên hệ tới hồng ân này mà Thiên Chúa thực hiện cho chúng ta trong con người Ðức Giêsu.

Tất cả mọi suy nghĩ của chúng ta chỉ là một sự khuyếch đại về những lời được áp dụng cho Ðức Maria, và cũng là những lời nói lên lý do hiện hữu của Mẹ: “Mẹ của Ðức Giêsu”, “Người được sinh ra bởi một người nữ, ngõ hầu chúng ta đón nhận ơn nghĩa tử”. Chúng ta khởi đi từ sự kiện là nơi Ðức Giêsu, chính Ngôi Lời Thiên Chúa, Ngôi Lời vĩnh cửu của Chúa Cha, Con một của Tình yêu của Ngài, đã nhập thể mang lấy thân xác chúng ta và làm bạn đồng hành với chúng ta để khai mở cho chúng ta con đường về với Cha. Người thực sự là một Người giữa chúng ta; Người đã trở nên một trẻ thơ như chúng ta để lớn lên giữa chúng ta, Người đã được cưu mang trong lòng dạ một người nữ : người nữ này là khởi điểm cho hiện hữu của Thiên Chúa, Bà là Mẹ Người.

Làm mẹ có nghĩa là gì? Ðối với Ðức Maria, làm mẹ Chúa Giêsu, một Giêsu vốn là Thiên Chúa làm người, có nghĩa là gì? Cha Laurentin cho rằng mẫu tính cũng là một hành trình chung cho mọi loài sinh vật. Nhưng đồng thời cha cũng nhắc nhở rằng nơi loài sinh vật, mẫu tính này dừng lại nơi việc trao ban sự sống và cho phép con cái của mình hiện hữu cách tự lập. Không có mối liên hệ gắn bó giữa mẹ và con. Một năm sau khi sinh, mèo mẹ không con phân biệt mèo con của mình với những con mèo khác. Ðây là một liên hệ nguồn gốc hoàn toàn có tính chất sinh học.

Nơi con người, theo bình thường thì mẫu tính là hoa trái của một hành động tự do và của một sự ưng thuận thường hằng vốn bao hàm hai sự qui chiếu, về người cha và về con trẻ. Nếu không như thế, thì mẫu tính đó không còn là mẫu tính nhân linh nữa, mẫu tính đó phần nào là một thất bại và là một sự bại hoại. Theo bình thường, sự ưng thuận của mẫu tính khiến phát sinh một tình yêu thiêng liêng và bất hủy, không dừng lại ở mức độ sinh học, nhưng vượt xa nhiều mức độ này”. Sự ưng thuận mẫu tính này mạnh mẽ hơn bệnh tật, hơn cả sự chết: tình yêu của người mẹ đối với một trong những người con tật nguyền của mình, hoặc đối với một trong những người con đã mất của bà, đôi khi có “cái gì đó mạnh mẽ hơn” cả tình yêu của bà đối với chính những người con riêng của mình, đó là “sức mạnh của một vết thương và một sự thiếu vắng không thể nào lấp đầy được”. Vượt xa chuyện tiếp nối sự sống, còn là sự tham dự vào điều thiêng liêng là xây dựng một tâm hồn, khai mở một tự do.

Nơi con người, sự sinh hạ không phải chỉ là tái tạo một cá nhân một, nhưng là một con người, không chỉ bằng lòng với việc tái tạo những gì đi trước mình, nhưng còn là hiện hữu đối diện với mọi người khác: nơi con người, có những tự do trong tương quan, chứ không chỉ là những cá nhân được đặt kề bên nhau. Tất cả những điều này được kiểm chứng trong trường hợp những tương quan của Ðức Maria với con trẻ được thành hình trong lòng Mẹ mà Mẹ phải đồng hành trong cuộc sống, chấp nhận cả những chia ly. Những tương quan giữa người mẹ và con có thay đổi nhưng không biến mất. Nếu Ngôi Lời Thiên Chúa đã thực sự, một cách con người, nhập thể, thì việc nhập thể này đảm nhận mọi khía cạnh của bản tính con người và của mẫu tính. Có những tương quan sinh động giữa Ðức Maria với Chúa Giêsu. Người mẹ ưng thuận cách thường xuyên đối với việc con của mình chào đời và đối với sự hiện hữu tự do của con mình. Ðức Maria không chỉ là lòng dạ đã cưu mang Ðức Giêsu, Mẹ còn nuôi dưỡng Ðức Giêsu bằng tình yêu cũng như bằng dòng sữa của mình.

Nhưng còn hơn nữa. Nếu Ðức Giêsu tùy thuộc mẹ mình trong bình diện con người, thì Maria tùy thuộc vào Người như là Ðấng Tạo dựng của mình. Dầu vậy, Mẹ vẫn hoàn toàn là Mẹ, với tất cả những gì mà việc làm mẹ bao hàm, sự ưng thuận và tình yêu thường hằng, và những tâm tình này thay vì hướng về những con người, thì hướng về Thiên Chúa như nguyên ủy và cùng đích của việc sinh hạ. Tất cả mọi sự nơi mẹ được thăng hoa, chuyển hóa: cũng như một người mẹ có những tâm tình nhân loại hướng về người con của mình, thì Maria cảm nghiệm những tâm tình thần linh hướng về Thiên Chúa đã trở nên con của Mẹ. Ðiều này muốn nói là tình yêu và tâm tình thờ phượng xen lẫn nhau trong trái tim đã được nâng lên trên những tình cảm thông thường của bản tính con người. Mẹ sống trong sự liên lạc cá vị với Thiên Chúa, ở một mức độ cao nhất mà không có vị thánh nào có thể đạt được. Mẹ vẫn là một thụ tạo bình thường, nhưng do bởi ơn đặc biệt vô song của Thiên Chúa, tình yêu mà Ngài thúc đẩy nơi Mẹ là một tình yêu ở mức độ đỉnh cao của Trái tim Thiên Chúa, một tình yêu trào vọt từ trái tim Thiên Chúa.

Ơn sủng của Maria, đó là mẫu tính của Người.

Thiên Chúa không giả vờ. Nếu Ngài giả vờ trở nên như chúng ta, làm con loài người, thì Ngài đã dùng Ðức Maria như một nơi chứa đựng thông thường, một chỗ dựa cho chất thể thân xác Ngài. Ngài sẽ không thực sự trao ban chính mình cho con người, nếu Ngài không thực sự nâng một con người trong chúng ta lên khả năng trao tặng cho Ngài một nhân tính hoàn toàn phù hợp với Con Thiên Chúa làm người. Nơi Ðức Maria, bản tính nhân loại đón nhận được sự cao quí vô lường của đời sống thần linh.

Ngôi Lời Thiên Chúa không đến để đảm nhận một nhân tính đã được cưu mang trước rồi. Ðức Maria không chuẩn bị một thân xác rồi sau đó thân xác đó được kết hiệp với Ngôi Lời. Không, ngay từ khi cưu mang Ðức Giêsu, thì cũng là lúc mầu nhiệm nhập thể được thực hiện. Ðức Maria không phải là Mẹ của xác thể Con Thiên Chúa, Bà là Mẹ của Thiên Chúa mặc lấy xác thể. Nếu không, Thiên Chúa không thực sự làm người.

Ngược lại, chúng ta cũng đừng nói rằng Ngôi Lời đến với Ðức Maria trước khi thụ thai để thực hiện việc thụ thai này. Nếu Ngôi Lời đến với Ðức Maria, chính là để mang một bản tính nhân loại, bản tính bắt đầu hiện hữu như là bản tính Ngôi Lời vào lúc mà bản tính này bắt đầu hiện hữu như bản tính nhân loại. Ðức Giêsu bắt đầu hiện hữu trong thời gian của con người. Nhưng Ngôi Lời không tiến hóa trong thời gian. Bản tính nhân loại không phải là thiết yếu (essentielle) trong hữu thể của Ngôi Lời. Nhưng bởi vì, do bởi tình yêu, Người đã quyết định đón nhận cách nhưng không một hữu thể khác với chính mình, đón nhận bản tính nhân loại và kết hiệp chúng ta với đời sống thần linh, Thiên Chúa không còn có thể xa cách con người, không do bởi chính hữu thể Thiên Chúa, nhưng do bởi ước muốn tự do của tình yêu Ngài. Như thế, Chúa Cha, từ đời đời,  nhìn thấy Chúa Con, không chỉ như là Ngôi lời, nhưng còn là như là Con của Maria.

Không phải là bởi vì đó là do bởi bản tính của Người, nhưng bởi vì Người muốn như thế phát xuất từ tình yêu thương xót từ đời đời, Chúa Cha yêu thương nhận ra nơi Maria là Mẹ của Con của Người. Nơi Maria, bản tính của chúng ta không chỉ được dẫn đưa tới chỗ bắt chước tình yêu Thiên Chúa trong những tâm tình nhân loại luôn vướng mắc những bất toàn, nhưng bản tính này được kết hiệp với sự sinh hạ vĩnh cửu của Tình yêu.

Mẫu tính của Maria được lôi cuốn vào trong phụ tính thần linh. Ngôi Lời không tùy thuộc Mẹ xét như Thiên Chúa, vì Ngôi Lời hiện hữu trước Mẹ, vượt qua Mẹ. Dầu vậy, cũng như con người của người con thì khác hơn là tổng số những thành phần cấu thành do cha mẹ cung cấp và vượt qua tổng số này thì cũng vậy, người ta không thể lấy mất khỏi Maria mẫu tính của Con người trọn vẹn của Người Con này trong Thánh Thần Tình yêu. Maria, dưới hoạt động của Thánh Thần, tham dự cách con người, nhưng là cách thực sự, vào sự sinh hạ của Người Con do bởi sự sẵn lòng tin tưởng của trọn vẹn con người mình, trọn vẹn thân xác mình. Người Con của Chúa Cha và người Con của Ðức Maria cũng là một người Con duy nhất.

Mẫu tính của Maria thực sự là một mẫu tính thần linh. Cách nói trừu tượng này, được sử dụng lần đầu, dường như do bởi Nazarius, một thần học gia của thế kỷ XVII, nói lên nhiều hơn là tác giả của nó. Maria không phải là Mẹ Thiên Chúa như thể Mẹ của một vị vua là mẹ của một người sẽ trở nên nhà vua. Vương quyền là một chức năng, thần tính làm đặc trưng hóa toàn vẹn con người Ðức Giêsu, toàn vẹn con người của người Con; chính do bởi lòng vâng phục của con đối với Cha, lòng vâng phục của người đối với Maria và Giuse, mà người mạc khải cho chúng ta căn tính của Ngôi hai của Thiên Chúa Ba ngôi chí thánh. Con Thiên Chúa làm người thiết yếu liên hệ với mẫu tính của Maria, diễn tả bởi Người, do bởi ân sủng của Thánh Thần, hồng ân của sự sống mà người đón nhận.

Một cách mầu nhiệm, chúng ta đã thấy, người mẹ của một vị vua nơi dân Israel, được kết hiệp với vinh quang của con mình. Thì hơn nữa, Ðức Maria được thánh hóa bởi Thánh Thần làm cho Mẹ trở nên nơi chứa đựng Hồng ân Thiên Chúa. Nơi chứa đựng nhưng không phải là người sở hữu, bởi vì Thiên Chúa hoàn toàn là trao ban và hiến tặng sự sống. Ngài vốn là như thế đến độ Ngài kết hiệp nhân tính, do bởi người nữ này, vào nguồn trào tuôn mà nơi đó mọi hữu thể được sinh ra. Nơi Ðức Maria, có hai thực tại là môn đệ của Chúa Kitô và là Mẹ của Người. Thực ra, hai thực tại này chỉ là một. Thiên Chúa tự trao ban cho tâm hồn sẵn sàng, như một trẻ thơ cho người mẹ của mình, để người mẹ này sinh ra người. Nhưng điều nơi chúng ta chỉ là thành phần và bất toàn, thì được thực hiện cách hoàn hảo trong tâm hồn và thân xác của Ðức Maria. Hồng ân của Thiên Chúa chỉ có thể được ký thác cho Giáo hội vì thế giới là bởi vì người thiếu nữ Nazarét (Myriam de Nazarét) đã tự để mình đồng hóa  với công trình của Thánh Thần nơi Mẹ. Ân sủng mà Mẹ được dư tràn, làm một với mẫu tính của mẹ, Mẹ chính là Mẹ của Ðức Giêsu, tên của Mẹ là “đầy ơn phúc”. Trong trái tim vĩnh cửu đời đời của Thiên Chúa, trong tình yêu tự do của Cha, Maria luôn đầy tràn Thánh Thần, Mẹ là, và Mẹ chỉ là Mẹ của Con duy nhất, và như thế “Mẹ là ái nữ của Cha, cung thánh của Thánh Thần”. Maria tự để mình được nâng lên tới sự Thánh thiện của Thiên Chúa, tới đến ý định thầm kín của Thiên Chúa.

Ðức Maria, do bởi thân xác của người, do bởi trọn vẹn con người của người, thuộc về Thiên Chúa. Mẹ không thể có người con nào khác ngoài Thiên Chúa. Ðể chúng ta có thể được đón nhận làm nghĩa tử, mặc dù những giới hạn và những tội lỗi của chúng ta, để chúng ta có thể thấy đời sống ân sủng chiến thắng nơi chúng ta, thì nhân tính của chúng ta phải được kết hiệp cách bền chặt, trong Chúa Kitô, với Ba ngôi Thiên Chúa, nhân tính của chúng ta phải, trong Ðức Maria, trao hiến sự sẵn sàng tùy thuộc cho sự đón nhận này trong sự tinh tuyền của Tình yêu.

Làm Mẹ Thiên Chúa, đối với Ðức Maria, đó không chỉ là một công việc thông thường, đó là bí mật của đời sống của Người, từ giây phút đầu tiên của hữu thể của người cho tới khi người được đưa vào trong Vinh quang, đó là bí mật của đời sống của người trong sự vĩnh cửu của Thiên Chúa. Maria chính là Panaghia, Người Nữ rất thánh, sự trong suốt tinh tuyền của Ánh sáng thần linh. Maria chỉ kết hiệp với Con của mình như Chúa Con vẫn làm một với Cha, trong Thánh Thần.

Ân sủng này chính là Thánh Thần mà Maria phản ảnh trong suốt. Bởi Thánh Thần, con người của Maria, hoàn toàn trọn vẹn được qui hướng về sứ vụ làm mẹ, được nâng lên đến độ tái tạo nhân tính của Con Thiên Chúa. Mẹ có với Chúa Con “một liên lạc thực sự giống với tương quan của Cha và Con với Thánh Thần. Một cách nào đó, Mẹ thuộc về trật tự của những Ngôi vị thần linh.

Con đường của Hồng ân Thiên Chúa.
Tất cả mọi người được tiền định cho Tình yêu.

Sự siêu việt của Thiên Chúa cũng chính là sự toàn năng của Tình yêu của Ngài, làm cho Ngài trở nên nhỏ bé để gặp gỡ chúng ta. Nơi Maria, người nữ được cứu độ đầu tiên, chúng ta khám phá ra chính mình. Nhờ Maria, Ðức Kitô là một người trong chúng ta và chúng ta đi vào trong gia đình Thiên Chúa. Con người Ðức Maria, những gì Maria là, tất cả là bởi ân sủng, và đó cũng là điều chúng ta phải trở nên: những con người nhờ Chúa Giêsu, được sống trong ân sủng như thư Êphêsô nhắc tới (1,4-6): “Người đã chọn ta trong Người, trước khi tạo dựng thế giới, để chúng ta trở nên tinh tuyền thánh thiện trước nhan Ngài trong tình yêu; Ngài đã tiền định cho chúng ta được trở nên nghĩa tử (…)để ngợi khen vinh quang ân sủng Ngài mà Ngài đã ưng thuận cho chúng ta trong Con yếu dấu của Ngài”. Sự phong phú ân sủng của Thiên Chúa tràn trề (Ep 1,8; 2,4) để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và làm cho chúng ta vào trong gia đình của Ngài (Ep 1,7; 2,19), Giáo hội, hiền thê và là thân mình Chúa Kitô, thánh thiện và vô nhiễm (Ep 5,27).

Chúng ta được tiền định để đi vào trong Ba Ngôi, nơi ở của Thiên Chúa. Ðức Maria đi trước chúng ta trên con đường này. Maria khiến chúng ta chiêm ngắm tương lai của chúng ta và bắt đầu sống tương lai này bằng đức tin. Thiên Chúa ban cho chúng ta ân sủng mà Ngài đã ban tràn trề cho Ðức Maria. Thánh Luca, khi tường thuật về Ðức Maria, “đầy ơn phúc”, làm cho chúng ta hiểu rằng nơi Ðức Maria, chiến thắng của Thiên Chúa được hoàn tất ngay từ đầu: nhân loại đón nhận hồng ân dành cho mình, Thiên Chúa đến ở nơi Mẹ, và Mẹ mang Thiên Chúa. Chúng ta rồi cũng được chia sẻ vinh quang của Ðức Maria, là được Ðức Giêsu Kitô cứu độ. Nếu Thiên Chúa đã có thể nhập thể trong lòng người nữ này, có nghĩa là không hề có nơi mẹ chút nào là nghi ngờ và từ chối, và Ngài không hề chút nào cưỡng ép tự do của Mẹ. Sự khai sinh của Con Thiên Chúa nơi xác thể chúng ta làm chứng là tội lỗi đã không hoàn toàn làm hư hoại bản tính chúng ta, tội lỗi đã không làm cho sức mạnh tha thứ trở nên vô ích. Trái lại, ở ngưỡng cửa Tân ước, chúng ta nhận thấy rằng Hồng ân Thiên Chúa cuối cùng đã và luôn luôn chiến thắng những đe doạ của sự chết: Ân sủng mạnh mẽ hơn tội lỗi và sự chết.

Từ nay chúng ta nhận ra rằng, trong những hoàn cảnh xấu xa, tệ hại nhất, Thiên Chúa vẫn luôn có thể tự trao ban : trong lòng lịch sử tội lỗi của chúng ta, đầy đau khổ và sự chết, một người nữ nhỏ bé đã hoàn toàn đáp lời, ưng thuận theo ân sủng cứu độ của Thiên Chúa. Ngài luôn có thể gặp thấy, tận đáy lòng của con người, tiếng kêu đang bị tắt nghẽn. Vì thế mà Thiên Chúa đã trở nên một phôi thai bé nhỏ trong lòng một trinh nữ để rồi trở nên một con người đi đến gặp gỡ mọi người, để nói với mọi người như đã nói với Zakêu “Hôm nay tôi sẽ đến nhà ông”. Ơn cứu độ của Thiên Chúa không chỉ hệ tại ở việc thanh tẩy tội lỗi chúng ta, nhưng còn chính là sự tha thứ, và cũng là hồng ân hoàn toàn, trọn vẹn, đi trước và bao phủ con người tội nhân chúng ta, chỉ chờ đợi tâm hồn chúng ta nói lên tiếng vâng ưng thuận.

Maria, hoạ ảnh của Thánh Thần.

Cung lòng Chúa Cha không là gì khác hơn là không gian tình yêu của Ngài, không phải một khoảng cách nào đó nơi Thiên Chúa cho phép Chúa Con hiện hữu bên Cha, nhưng là tương quan cá vị đầy tràn tin tưởng và hồng ân diễn tả trọn vẹn Cha: cung lòng Cha, sự sống của Cha, hơi thở của Cha có tên là Thánh Thần hằng sống và tác sinh; nơi Ngài Con một duy nhất được cưu mang từ vĩnh cửu. Và Thánh Thần này đã có thể gặp thấy trên trái đất một con người phù hợp với mình và cho phép loài thụ tạo thời gian đón nhận Con yêu dấu. Chỉ có Ân sủng, chỉ có Hồng ân Thiên Chúa, mới có thể nhận ra sự thành tựu này: một loài thụ tạo đã được tác tạo bởi Thánh Thần, trong Mầu nhiệm của Con. Thiên Chúa tự trao ban, và để tự trao ban, Ngài thúc đây Maria như là hoa trái đầu mùa của ơn cứu độ.

Maria vô nhiễm không phải là một luật trừ, đứng ngoài ơn cứu độ: ngược lại, Mẹ còn làm chứng cho sức mạnh của ơn cứu độ, bởi vì Mẹ là người được hưởng ơn cứu độ trọn vẹn nhất, “đầy ân sủng”. Maria đã có thể nói không như Evà, người nữ đầu tiên, thế nhưng tất cả cuộc đời của Mẹ phản ánh sự tự do của Thánh Thần Ðức Giêsu, Thánh Thần của Cha. Mẹ là hoạ ảnh của Thánh Thần, Mẹ tự để mình được nhìn ngắm và tạo dựng trong tình yêu. Mẹ hoàn toàn trong suốt, không hề có chút nào là cho mình, không hề có chút nào là chiếm hữu, Mẹ là nơi mà Ân sủng cư ngụ đến lưu trú để rồi thông ban cho thế giới, Mẹ là Vô nhiễm nguyên tội. Maria chính là con đường của Hồng ân Thiên Chúa. Hướng về Mẹ, chính là cùng với Mẹ tuôn trào từ trái tim Thiên Chúa cho một tạo thành mới. Bernanos, tác giả tác phẩm “Nhật ký một cha xứ miền quê” đã hiểu rõ điều này, nên đã dẫn đưa chúng ta đến tận ngọn nguồn của Ân sủng, mỗi ngày vào khoảng khắc đầu tiên của đời sống chúng ta.

  • Còn Ðức Thánh Trinh nữ, ông có cầu nguyện với Ðức Mẹ đồng trinh không?
  • Chẳng hạn như ?
  • Người ta nói như vậy...... ông có cầu nguyện với Ðức Mẹ không, ông có cầu nguyện với Ðức Mẹ sốt sắng không ? Bà là Mẹ chúng ta, hiểu chưa. Bà là Mẹ nhân loại, Evà mới. Nhưng Bà cũng là con gái của Evà. Thế giới cũ, thế giới đau khổ, thế giới trước khi có ân sủng đã ru bà lâu dài trên trái tim buồn thảm của mình - hằng thế kỷ qua – trong sự chờ đợi đen tối, khó hiểu của một người trinh nữ sinh hạ. Hằng thế kỷ và hằng thế kỷ, thế giới đó đã bảo vệ bằng những bàn tay của mình đầy tội ác, bằng những bàn tay nặng nề của mình cho người con gái nhỏ bé lạ lùng mà nó không biết tên gọi. Một người con gái nhỏ bé, nữ hoàng các Thiên Thần !

 NAY TOI LA TOI TỚ CHUA

Nơi Maria, Thiên Chúa biểu lộ như là Ðấng cho đi mà không đòi hỏi gì đáp trả. Maria đón nhận Hồng ân Thiên Chúa, chính Thiên Chúa và không giữ lại gì cho mình. Ðến lượt mình, Maria cũng trao tặng Ðức Giêsu cho thế giới, cho mọi người. Sau khi đã khám phá nơi Maria, người nữ đầy ơn phúc, người nữ mà Thiên Chúa hoàn toàn đặt tin tưởng và trao hiến trọn vẹn, chúng ta khám phá nơi Maria một người nữ mạnh mẽ, có thể đáp trả lại đức tin mà Thiên Chúa đặt nơi bà, chúng ta khám phá một Maria tin tưởng, vững vàng trong cuộc lữ hành đức tin.

« Phúc cho bà là kẻ đã tin » : Sự tự do của Maria.

Ngay sau khi sứ thần truyền tin, Maria đứng dậy, vội vã lên đường. Maria được thúc đẩy bởi sức thúc đẩy của đời sống mới. Maria đã đón nhận sự sống trong lòng tin. Êlizabét, người chị họ đã tuyên bố là Maria là người diễm phúc, cũng như chính Chúa Giêsu tuyên bố Phúc cho những người nghèo khó sẵn lòng mở rộng tâm hồn mình đón nhận Lời Chúa (Lc 6,20 ; 11,28), trong khi mắt của họ còn chưa thấy hoa quả của lời hứa (Ga 20,29). Maria nhận ra hạnh phúc của những người tin tưởng, hạnh phúc của cha những người tin, nơi người mọi thế hệ được chúc phúc : họ sẽ được cứu độ do bởi lòng tin (St 12,3).

Như thế Maria là chứng nhân đầu tiên của sự Phục sinh, của đời sống trong tự do của Thánh Thần. Mẹ là chứng nhân đầu tiên của Phục sinh trong đối thoại với một người nữ khác cũng đang chuẩn bị để cho một người con chào đời. Êlizabét không sinh hạ, nhưng Thiên Chúa đã không bỏ rơi bà, và Thiên Chúa tự tỏ lộ như là tác giả sự sống. Lời Ngài không có mục đích nào khác hơn là lời tạo dựng. Và lời con người phải nhìn nhận và công bố quyền năng sự sống này. Zakharia, vì từ chối, nên đã phải câm lặng. Trái lại, Maria, sẽ mang lời chào mà bà đã đón nhận, bà sẽ chia sẻ niềm vui này. Maria là một người nữ, đã nhận ra, đã đón nhận và thông truyền sự Sống đến từ Thiên Chúa. Israël phải đảm nhận sứ vụ của mình, thiết yếu là sứ vụ của người nữ, là đón nhận và thông truyền sự Sống. Israel phải đón nhận Ðức Maria và nhận ra mình nơi Mẹ.

Thế mà Maria chỉ nói một điều về mình : « này tôi là tôi tớ Chúa », tôi là người nữ tỳ mà Thiên Chúa đã nhìn đến phận hèn và là người mà Thiên Chúa đã chia sẻ hạnh phúc và vinh quang, vinh quang của người tôi tớ đầy yêu dấu. Maria hoàn toàn tự để mình được tạo dựng và chiếm ngự bởi Ðấng đến với Mẹ và cũng là Ðấng mà  Mẹ luôn phó thác chính mình. Mẹ hoàn toàn để mình ở trong Thiên Chúa đến độ Mẹ không nhận ra mình khi Ngài đến với Mẹ : Mẹ hoàn toàn bối rối khi nghe lời chào và không hiểu lời chào với tên gọi được trao ban cho mẹ : đó quả là một danh hiệu thần linh mà sứ thần sẽ triển khai ý nghĩa tròn đầy trước Mẹ : « Bà được nghĩa cùng Chúa ».  Chính là Thiên Chúa mà Maria gặp được trong lời chào dành cho mẹ. Mẹ khám phá mình trong Thiên Chúa Ba ngôi.

Sứ thần sẽ cho mẹ một cơ hội để tỏ lộ lòng mình với Thiên Chúa trong cuộc đối thoại tuyệt diệu, như thể Thiên Chúa thích thú nghe tiếng vọng của Tình yêu diễn tả sự vĩnh cửu của Ðời sống Ngài, của Hơi thở Ngài. Lời chào của sứ thần vừa là một tên gọi được trao ban, vừa là một lời mời gọi, nhưng tên gọi đã có nghĩa là lời đáp được định hình từ nguyên thủy. Maria tự đồng hóa mình với lời đáp ; nhưng dầu vậy, lời đáp này không phải là tự động, kết quả của một bộ máy đã được điều chỉnh trước. Maria, tràn đầy ân sủng, tràn đầy Thiên Chúa, đồng thời là người nữ tự do, tự do với tự do của Thiên Chúa, một tự do vô tận, tự do tan hòa và triển nở trong Tình yêu.

Thực vậy, cuộc đối thoại không phải chỉ là hình thức. Và bí mật của Maria được tỏ lộ, có vẻ như đối nghịch với lời loan báo cho mẹ, dù cho lời loan báo này không tuyệt đối bị loại bỏ. Maria học biết rằng mình « sẽ cưu mang trong lòng và sinh hạ một người con », sẽ là con Ðavít, Vua cứu thế « người sẽ lớn lao, và sẽ được gọi là Con Ðấng tối cao ». Maria, đã đính hôn, tức là đã bị ràng buộc dứt khoát, « với một người tên là Giuse, thuộc nhà Ðavít », Mẹ hoàn toàn hiểu rằng Thiên Chúa chúc phúc cho sự phối hợp này và sẽ ban tặng cho mình một sự sinh hạ tuyệt trần : người con trai của Giuse, người con của Ðavít, sẽ là Ðấng cứu thế như lòng mong đợi.

Nhưng nếu cần phải có sự can thiệp của sứ thần Gabrien để trao phó cho Maria mẫu tính này, có thể điều này không bình thường. Thực vậy, Maria cho thấy một dự tính khác. Sứ thần đến có vẻ để khẳng định cho mẹ trong một tình thế được xem như chính thức và xem ra mẹ sẵn sàng đảm nhận. Và Mẹ đã tuyên bố : « làm sao điều đó xảy ra được, vì tôi không biết tới người nam ? ».

Maria lẽ ra đã phải nhảy mừng vì lời loan báo sinh hạ một người con cứu thế. Nhưng niềm vui của mẹ khác đi. Mẹ không nhìn chính mình, mà mẹ hoàn toàn hướng về Thiên Chúa mà mẹ yêu mến, và chỉ có Ngài mới đổi mới sự hiến dâng của Mẹ. Nếu Maria, trong một tình trạng rõ ràng như lúc này, trước một lời loan báo thần linh, cảm thấy nhu cầu phải nói lên : « nhưng tôi không biết người nam ! », điều này không đơn giản chỉ là nhắc cho sứ thần rằng mẹ chưa có phối hợp xác thể với Giuse, nhưng là để tuyên bố với Thiên Chúa điều mà có thể mẹ định hình cách rõ rệt và cách ý thức cho chính mình : « tôi không đòi hỏi gì khác hơn là thuộc về Chúa, chỉ thuộc về Chúa thôi. Ngay cả vinh quang làm mẹ của Ðấng cứu thể cũng không thể làm tôi từ khước việc hiến dâng này ».

Chắc hẳn là đối với Maria, không cần phải hỏi sứ thần Gabriel về những thể thức của việc thụ thai sẽ được hoàn tất vào chính lúc đó, trong khi mà Maria vẫn còn đồng trinh. Không hề có gì trong lời loan báo của sứ thần cũng như trong những lời loan báo của Thánh kinh về những sự sinh hạ lạ lùng đưa tới việc tưởng tượng một phép lạ như thế. Lời loan báo chỉ nhắm tới sứ vụ được trao phó, dường như trái lại muốn giả định rằng người thiếu nữ trẻ sẽ có con trong hoàn cảnh của hôn nhân đã định. Nhưng quả thực Thiên Chúa chỉ chờ đợi lời công bố của Maria : mẹ hoàn toàn tận hiến cho Thiên Chúa. Và cũng chính vì đó mà Mẹ có thể đón nhận chính Thánh Thần, Mẹ là nơi trú ngụ hoàn toàn được chuẩn bị cho Ðấng sẽ là nơi nối kết giao ước giữa Thiên Chúa và con người, bởi vì Người sẽ là Thiên Chúa và là người, là Con Thiên Chúa.

Ðây quả thực là một sự can thiệp mới mẻ và hoàn toàn đặc biệt của Thiên Chúa, của một cuộc tạo dựng mới, được ghép vào thế giới cũ. Người con Ðavít đã được loan báo, sẽ được Thiên Chúa ban tặng cách trìu mến, đã gặp được một trinh nữ để đón nhận mình. Bản văn đưa chúng ta vào một bước nhảy kỳ diệu vào trong sự vô tận của tình yêu. Câu hỏi của Maria đưa chúng ta đi từ Giao ước cũ tới Giao ước mới, từ sự chờ đợi của con người tới hồng ân nhưng không của Thiên Chúa. Bởi vì Maria đã không xem quyền làm mẹ Ðấng cứu thế con Ðavít như một miếng mồi phải chiếm hữu, bởi vì Mẹ hoàn toàn dâng hiến cho quyền năng Thánh Thần , bởi vì mẹ là người trinh nữ hoàn toàn sẵn sàng, nên « người con do bà sinh ra sẽ là thánh và sẽ được gọi là Con Thiên Chúa ». Cha Laurentin mời gọi chúng ta nhận thấy ở đây gợi ý cho lời loan báo về Ðấng Thánh trong lời tiên tri của Daniel. Thể thụ động nhấn mạnh đến sự can thiệp duy nhất của Thiên Chúa trong sự sinh hạ này. Ðộng từ ở thì hiện tại với ý nghĩa tương lai gần : « Thánh Thần sẽ đến… và Quyền năng sẽ bao phủ bà… và hài nhi sẽ được sinh ra sẽ được gọi là thánh là Con Thiên Chúa ». Nhưng người ta có thể nói là công việc của Thiên Chúa đã bắt đầu trong lòng Maria, hoàn toàn thánh thiện, hoàn toàn để Thiên Chúa chiếm hữu.

Maria tỏ lộ Thiên Chúa, Maria mang Thiên Chúa trong lòng thụ tạo là nơi mà Thiên Chúa đến phối hợp, vì tình yêu. Kinh nghiệm của chúng ta, không phải tình cảm, không hoàn toàn là cảm xúc, nhưng khách quan, là kinh nghiệm của một biến đổi khó nhọc, nhưng thực sự, sự biến đổi từ con người xương thịt thành một tạo thành mới, được Thánh Thần tình yêu nắn đúc. Do bởi đau khổ lôi kéo chúng ta ra khỏi sự ích kỷ của mình, chúng ta học để cho Thiên Chúa chiến thắng tội lỗi trong chúng ta để tham dự vào hồng ân Thiên Chúa. Ðể được thế, Thiên Chúa phải tự trao ban và Maria phải đón nhận Ngài.

Như thế, sự sinh hạ của Ðức Giêsu không phải chỉ là một sự sinh hạ mầu nhiệm bình thường : nghĩa là Ngài sẽ là một người hùng, một thứ nữa thần minh, và chúng ta không thể nào được cứu độ bởi ngài, được cứu độ khỏi đời sống khả tử của chúng ta để tham dự vào đời sống của Thiên Chúa ; quả thực, người hùng này sẽ là một siêu nhân và có thể sẽ không cho được điều mà mình không thực sự có được, sự sống thần linh. Nhưng nếu như, khi nhìn nhận trong thế giới chúng ta và trong đời sống chúng ta sự hiện diện của Hồng ân Thiên Chúa, chúng ta đón nhận Ðức Giêsu như Ðấng cứu thế của chúng ta, Con Thiên Chúa, Ngôi Hai Thiên Chúa, như thế chúng ta phải để mình được nâng lên tới mầu nhiệm của hiện hữu vĩnh cửu của Tình yêu và của sự sinh hạ của Ngài trong lòng Cha.

Chúa Kitô không phải là một người được liên kết với Thiên Chúa, Người là chính Thiên Chúa, là Con vĩnh cửu được sinh ra bởi Cha trong Thánh Thần tình yêu. Không thể nào có thể phân ly nhân tính của Người khỏi hiện hữu vĩnh cửu của Người. Không thể nào có thể phân ly việc thụ thai nhân tính của Người khỏi việc sinh hạ vĩnh cửu của người. Những gì diễn ra cách lịch sử nơi Maria trong ngày Truyền tin là sự biểu lộ được tạo dựng của những gì diễn ra cách vĩnh cửu nơi Thiên Chúa. Ðó là công trình của Chúa Cha trong Thánh Thần.

Chính vì thế Thánh Thần được đích thân gửi đến cho người, không phải như hiệu quả đơn thuần do lòng tốt lành của Thiên Chúa đến chỉ để làm lệch lạc những định luật tự nhiên. Ðúng hơn ở đây bản tính được thiết lập tận ngọn nguồn và được đưa đến chỗ phát triển trọn vẹn chung cuộc. Chính Thần Thần được Cha sai đến như Ngài sẽ sai đến vào lễ Ngũ tuần, khi mà người ta sẽ thấy Maria ở giữa các môn đệ. Công đồng Vatican 2 xác định rõ : « Chính vào lễ Ngũ tuần mà Công vụ các tông đồ khởi đầu, cũng như do bởi việc Thánh Thần hiện xuống trên Ðức Trinh nũ Maria mà Chúa Kitô được thụ thai và do bởi việc Thánh Thần xuống trên Chúa Kitô khi cầu nguyện mà Chúa Kitô được thúc đẩy để khởi sự sứ vụ của mình » (Ad gentes 4).Tin mừng còn cho thấy rõ : « Maria đã chịu thai bởi Thánh Thần……Ðiều được sinh bởi Mẹ là do quyền phép Thánh Thần » (Mt 1,18.20).

 Như thế, Maria như được thánh thần tác động từ bên trong. Thánh Thần thúc đẩy và động viên những khả thể đầy sức sống của trái tim triển nở trong ân sủng của Mẹ để Mẹ trở nên Mẹ của Con Thiên Chúa. Thánh Thần không đến để thêm vào hoạt động của Ðức Maria, và phối hợp với Maria như một tác nhân nhân loại. Matthêu nói rằng Ðức Giêsu « được sinh ra » ở thể thụ động (Mt 1,16), tác nhân không được nói đến bởi vì sự sinh hạ này được thực hiện bởi Thánh Thần, Ðấng không hoạt động theo cách con người : về phần mình, đây là một tạo dựng mới, như cách trình bày song song giữa Tin mừng thời thơ ấu với sách Sáng thế. Ðó cũng chính là sự tạo dựng mới, sự tạo dựng do bởi tự do trong Chúa Kitô, bởi vì Ðức Maria chính là mãnh đất trinh nguyên hợp tác do bởi tiếng thưa vâng với hoạt động tạo dựng của Thánh Thần. Chính trong tiếng thưa « vâng » này mà việc tạo dựng đầu tiên gặp được ý nghĩa của nó và được tỏ lộ như công trình của Thiên Chúa, Ðấng tạo dựng duy nhất của tự do.

Cũng như hoạt động của Thánh Thần không cộng thêm vào hoạt động của Maria nhưng thúc đẩy hoạt động này từ bên trong, cũng vậy tự do của Maria gặp được sự sung mãn của mình trong tiếng thưa « vâng » của người nữ tỳ, phản ảnh tiếng « thưa vâng » ba ngôi, tiếng « vâng » của Cha và của Con được diễn tả trong ngôi vị của Thánh Thần.

Maria, hôn thê của Giuse, chỉ biết là mình thuộc về Thiên Chúa. Giuse đón nhận bà như người vợ, đồng thời cũng biết rằng ông không bao giờ có thể chiếm hữu bà : chính ông cũng sẽ được gìn giữ bởi bà, theo cách thế ông mà ông hoàn toàn là đón nhận Hồng ân Thiên Chúa. Giuse và Maria lớn lên trong tự do của tình yêu, trong tự do của Thánh Thần. Tiếng vâng của họ không hề có gì là giữ lại, tiếng vâng hoàn toàn tinh tuyền, không hề có cám dỗ từ chối, mà khả thể của tiếng vâng này dường như đối với chúng ta là những tội nhân, như là điều kiện của tự do của chúng ta. Thực vậy, chính chúng ta đã sai lạc, đã bẻ cong đà vươn lên đã được ban tặng cho chúng ta để tiến tới bản tính đích thực của mình, sự sinh hạ đích thực của mình trong Thiên Chúa. Chúng ta đã sử dụng tự do  lớn lên để tự đóng kín mình trong ích kỷ và sự chết.

Toàn thể con người của Maria được đồng hóa với sứ vụ của Mẹ. Không có gì nơi mẹ là ước muốn tự lập. Nếu như tiếng « thưa vâng » của Mẹ là phản ảnh tiếng vâng Ba ngôi, đến độ Con Thiên Chúa có thể nói được là con của Maira, thì Mẹ chỉ có thể là « tiếng vâng » trong từng rung động của con người mẹ từ khi được cưu mang. Maria luôn làm một với con của mình. Mẫu tính của mẹ làm cho mẹ là người được liên kết, kết hiệp cách đặc biệt với con của mình. Hơn nữa, mẫu tính này là kết quả của lời xin vâng mà nhờ đó mẹ trao hiến toàn thân cho Ngôi Lời Thiên Chúa để được kết hiệp với Ngôi Lời. Sự liên kết này là nguồn của thần tính của Mẹ, mà nhiều nhà thần học đi tới chỗ gọi là « mẫu tính của người vợ » (maternité sponsale). Bởi vì hình ảnh người vợ gợi lên giao ước chặt chẽ nhất xét về mặt con người. Ðây cũng là hình ảnh trong Thánh kinh diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa với dân Chúa, của Chúa Kitô với Giáo hội và với mỗi linh hồn người tín hữu. Thánh Tôma không ngần ngại nhìn nhận sự ưng thuận của Ðức Maria theo nghĩa sự ưng thuận hôn ước (consentement nuptial), được đón nhận nhân danh toàn thể nhân loại. Giữa Chúa Kitô và Ðức Maria, có sự hiệp thông thể lý, sự hiệp thông của người Mẹ và Thiên Chúa nhập thể nơi Mẹ. Nhưng Mẹ được thiết lập trên sự hiệp thông thiêng liêng và huyền nhiệm, một cộng đoàn toàn thể (communauté totale) tạo nên giữa Maria và Chúa Giêsu một sự liên kết suy nhất, sâu xa. Mẫu tính nhân loại không tạo ra những liên kết như thế giữa người mẹ với con mình. Sự kết hiệp này phát xuất từ hồng ân trọn vẹn mà Ðức Maria được mời gọi thực hiện sự trao hiến toàn vẹn chính mình cho Ngôi Lời Thiên Chúa, để Ngôi Lời đón nhận một nhân tính vốn trở nên sự hiến dâng trọn vẹn của Người.

Trinh nữ và là Mẹ.

Maria là người hiệp công (socia), người trợ tá của Con Thiên Chúa, như Evà vốn là người trợ tá (socia) của Ađam, mặc dù vẫn có một khoảng cách vô tận giữa Chúa Kitô và Mẹ Maria. Nhưng không vì vậy mà sự kết hiệp vì thế mà không phải là thực sự, và phải được diễn tả bằng sự trao hiến hổ tương và trọn vẹn giữa con người Ðức Maria và Thiên Chúa.

Thiên Chúa, khi nhập thể, không trao tặng cái gì đó thuộc về mình, bên ngoài mình, nhưng Người trao ban chính mình. Maria được mời gọi thực hiện cũng chính sự trao tặng này nơi chính mình, thể xác và linh hồn của mình, một sự trao tặng trọn vẹn và tuyệt đối. Ðối với Maria, cũng như đối với chúng ta, không chỉ là thêm ít nhiều xa xa vào tình yêu Thiên Chúa, nhưng chúng ta cưu mang Người, đón nhận Người trong tâm hồn chúng ta hết sức có thể được, và chúng ta cố gắng thông truyền Người cho anh chị em mình một cách tinh tuyền hết sức có thể. Ðối với Maria là sinh hạ Thiên Chúa trong chính thân xác mình. Toàn thể con người của Maria, thể xác và tâm hồn, được hiến dâng cho Ngôi Lời Thiên Chúa cách trực tiếp.

Chính điều này được diễn tả bởi mẫu tính đồng trinh (maternité virginale), dấu chỉ của Thần tính của Ðức Kitô, dấu ấn của sự toàn năng của tình yêu Thiên Chúa là Ðấng hoàn toàn trao hiến cho loài thụ tạo của Ngài, trong sự kết hiệp còn tuyệt đối trọn vẹn hơn sự kết hiệp trong hôn nhân  đến độ loài thụ tạo trở nên người mang Thiên Chúa. Phép lạ của việc cưu mang đồng trinh là lời mời gọi tất cả mọi người nam và người nữ : dù ơn gọi của mình có thế nào, họ đều được mời gọi theo Ðức Maria trên nẻo đường tình yêu của mẹ. Dù hoàn toàn tận hiến cho Thiên Chúa, dầu vậy Maria lại là hôn thê và là vợ của Giuse ; dù cho đứng trước viễn tượng làm mẹ, mẹ đã hiểu rằng ơn gọi sâu xa nhất của mình là hoàn toàn để cho ân sủng của Thiên Chúa hoạt động, bằng cách trở nên lời đáp trả tinh tuyền của tình yêu.

Nghịch lý bề ngoài theo mức độ con người giữa sự hiến dâng đồng trinh của mẹ và tình trạng làm vợ và làm mẹ không hề là một cản trở cho đà vươn của trái tim mẹ : Maria hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa. Cách thế thực hiện việc sinh hạ nhân loại của Người con của mẹ nhấn mạnh quyền năng của tình yêu có thể đi xuyên qua người trinh nữ mà người trinh nữ vẫn hoàn toàn đồng trinh, như việc chính Chúa Kitô đã ra khỏi mồ, đã vào phòng họp của các môn đệ trong khi các cửa vẫn còn đóng kín. Những đóng kín của thế gian đều không là gì, đều là khai mở đối với sự trao hiến của trái tim Thiên Chúa sau cùng được hiểu biết bởi trái tim con người.

Maria được đặt để ở ngọn nguồn của mầu nhiệm Giao ước giữa Thiên Chúa với con người. Ðiều được thực hiện nơi mẹ đã được loan báo trước một cách hình ảnh vào thời Môisen trong hòm bia Giáo ước, được xây dựng bởi bàn tay con người để trở nên nơi ở của Thiên Chúa Thánh Thiện : cột mây phủ bóng lên nhà tạm và Vinh quang Thiên Chúa tràn ngập nơi ở này  (Xh 40,35). Nơi Ðức Maria, hình ảnh trở nên thực tại thể lý (ontologique). Chính đích thân Thiên Chúa đảm nhận thực tại thể lý và bản thể của một con người được cưu mang nhờ quyền năng Thánh Thần. Hình ảnh của Ðấng Chí Thánh của Giao ước thứ nhất được thực hiện cách trọn vẹn sung mãn nơi Maria, một sự sung mãn thánh thiện. Chính Thiên Chúa ở giữa chúng ta, ở với chúng ta.

Sự thánh thiện của Ðức Maria vì thế được diễn tả trọn vẹn trong sứ mạng được trao phó cho mẹ. Hẳn nhiên là Thiên Chúa không thể gặp được trong các loài thụ tạo một người nữ xứng đáng để trở nên mẹ của Ngôi Lời Ngài. Bởi vì khoảng cách là vô tận giữa sự thánh thiện của con người do bởi công nghiệp của mình với sự thánh thiện mà Thiên Chúa ban tặng cho con người. Nhưng dầu vậy, Maria lại không phải là một dụng cụ đơn thuần mà Thiên Chúa sử dụng cho công trình nhập thể dù cho tình trạng ân sủng có thế nào đi nữa. Sự khác biệt thật lớn lao giữa việc cưu mang Gioan tẩy giả do bởi việc Thiên Chúa ưng thuận cho lời cầu nguyện của hai vợ chồng Zakharia với việc cưu mang Ðức Giêsu vốn là hồng ân nhưng không, bất ngờ ! Dầu vậy, hồng ân này đã được chuẩn bị.

Maria đã được chính Thiên Chúa chuẩn bị. Sứ thần cho thấy điều này ngay từ những lời chào đầu tiên nói với Trinh nữ, « đầy ơn phúc », « được Thiên Chúa yêu mến », đây là một động từ ở dạng thụ động, tức là tình trạng đầy ơn phúc của Maria là do công trình của Thiên Chúa chứ không phải công trình con người, nhưng đây cũng là công trình hoàn hảo, động từ thể thụ động  hoàn thành (parfait), đánh dấu sự hoàn tất, thành tụ, triển nở trọn vẹn trong ân sủng, trong tình yêu của Thiên Chúa đối với loài thụ tạo.

Ðức Maria phù hợp với tình yêu này khi nhìn nhận mình là người « nữ tỳ hèn mọn ». Sự thánh thiện của Maria không là gì khác hơn là sự ưng thuận hoàn hảo này, nâng hành vi đức tin và đức ái của Maria vượt lên trên mọi nhân đức các thánh, bởi vì nó ở tầm mức của chính hồng ân Thiên Chúa muốn thông chia cho con người, tức là chính mình, Thánh Thần của Ngài. Maria thánh thiện trước mặt Thiên Chúa là Ðấng đến và soi bóng mình nơi Maria. Từ đời đời, và vì thế từ giây phút đầu tiên khi thụ thai, Thiên Chúa nhìn thấy nơi Maria người nữ hoàn toàn thánh thiện, làm mẹ của Con Thiên Chúa. Thiên Chúa nhìn thấy nơi Maria người trinh nữ có thể sinh con do bởi quyền năng của Thánh Thần. Mẹ khai mở con đường của người tín hữu là những người, nhờ hồng ân Thiên Chúa nơi mẹ, có thể trở nên những người con Thiên Chúa trong Người Con duy nhất của Ngài.

Maria vẫn mãi mãi trong suốt phản ánh Thánh Thần Thánh thiện. Tình yêu của mẹ đối với Giuse và tình yêu của Mẹ đối với chúng ta là một tình yêu hoàn toàn thiêng liêng và hoàn toàn tình tuyền, tình yêu của chính Thiên Chúa đối với Ðức Giêsu, được diễn tả trong trái tim của một người nữ, trong trái tim của một người mẹ. « Thánh Thần sẽ đến trên bà, và Quyền năng Ðấng tối cao sẽ rợp bóng trên bà ». Cách diễn tả đáng ngạc nhiên. Ngay từ lúc truyền tin, ngay từ lúc cưu mang Con Thiên Chúa trong lòng mình, Maria được dẫn đưa tới tận ngọn nguồn của sự trao hiến trinh nguyên của mình, của bí mật Thiên Chúa vốn ở nơi mẹ luôn mãi, được đưa dẫn tới sự tuôn tràn vĩnh cửu của Thánh Thần. Và Maria còn phải tiến lên nữa, bởi vì con đường còn dài cho đến dưới chân thập giá, nơi mà Người Con duy nhất này sẽ trao hiến hơi thở cuối cùng của mình. Vì thế, những người Ðông phương vẫn thích nói rằng Maria là đối tượng được thanh tẩy, một carthasis tiệm tiến ; Mẹ được dẫn đưa tới nguồn ân sủng tuôn trào từ cạnh sườn khai mở của Thiên Chúa Con Mẹ trên thập giá. Maria là người đầu tiên trong cuộc lữ hành đức tin : tiếng thưa vâng của người lớn lên trong người đến độ hoà tan trong sự thinh lặng của Thiên Chúa là Ðấng tự trao ban, và làm cho Thiên Chúa sinh hạ trong cung lòng đồng trinh của mình một nhân loại mới.

Con đường đức tin của Maria : từ bóng tối đến ánh sáng.

Maria là người nữ để cho Thiên Chúa hoạt động và bao phủ dưới bóng của Ngài để đạt đến sự sáng chói của ánh sáng mới xuyên qua những con đường đen tối của đức tin. Nói đúng hơn, chính mẹ tạo nên dấu chỉ hữu hình của vinh quang đã được loan bào bởi các thiên thần và được chiêm ngắm bởi các mục đồng trong đêm giáng sinh : vinh quang thiên quốc toả chiếu trên trái đất bởi ơn an bình : lời Thiên Chúa đến với nhân loại dưới hình thức một trẻ thơ giáng sinh, được loan báo như Tin mừng, sự biểu lộ của ánh sáng từ trời cao, ánh sáng này được nhận ra nơi sự hiện diện của Maria và Giuse nơi trẻ thơ mới giáng sinh. Ðược thúc đẩy bởi lời, các mục đồng ra đi vội vã, cũng như Maria đã hành động như thế sau khi nhận lời sứ thần truyền tin : mẹ là người đầu tiên đã để đức tin vào Hồng ân Thiên Chúa nâng dậy, là người đầu tiên đã trao hiến trọn vẹn con người mình cho ngọn gió lồng lộng do tình yêu Thiên Chúa khai mở.

Ðó cũng chính là Thiên Chúa lên đường, Ngài đã chọn trái đất để thông truyền Ánh sáng của Khuôn mặt của Ngài. Ngài không sợ hãi phải trao ban chính mình, trao hiến hết chính mình và Ngài mời gọi loài thụ tạo đi vào trong vận hành của tình yêu này vốn là tình yêu mạo hiểm trong đêm tối. Chúng ta đọc lại lời tựa của Tin mừng theo Gioan, sự tương phản mà thánh nhân trình bày giữa ánh sáng và bóng tối, vai trò của Gioan tẩy giả và sứ vụ của Chúa Giêsu, chúng ta cũng gặp lại sự chọn lựa nơi ở của Ân sủng, nơi ở của Thiên Chúa giữa con người. Chúng ta phải đọc thánh Gioan theo ánh sáng của Tin mừng thời thơ ấu để chúng ta cũng đi vào trong sức năng động của đức tin.

Lời (Logos) của Thiên Chúa là sự nâng đỡ cho loài thụ tạo, sự sống chiếu soi tâm hồn con người và cứu độ họ khỏi bóng tối tội lỗi. Lời này thúc đẩy các nhân chứng mà người đầu tiên, người lớn lao hơn cả nhận được tên là Gioan, sứ giả của ân sủng. Ông xuất thần từ một gia đình vốn hằng thế kỷ qua, đảm nhận sự trung thành với Giao ước, theo những luật định của Lề luật và cử hành trong Ðền thờ việc phượng tự dâng lên Thiên Chúa. Mãnh đất vì thế được chuẩn bị cho con người là những kẻ được mời gọi đón nhận Hồng ân Thiên Chúa. Dầu vậy, sự hổn loạn và bóng tối của thế giới khép kín trong chính mình không dễ dàng tự để cho ánh sáng tình yêu thâm nhập vào : vào thời điểm và vào nơi chốn thánh thiêng nhất của sự gặp gỡ của Thiên Chúa với dân Ngài, Thiên Chúa phải chứng kiến sự cứng tin của một dòng dõi nhân loại.

Nhưng bóng tối không ngăn cản được ánh sáng. Sự câm lặng của con người càng biểu lộ  quyền năng của Lời mà chân lý sẽ chiếu soi thế giới,  hay đúng hơn là trào vọt ra từ lòng thế giới, bởi vì Lời đã quyết định cắm lều nơi loài người. Vì thế, ở cuối phúc âm theo Gioan, tiếp theo sau hình ảnh những người lính lấy y phục của Ðức Giêsu và không xé rách áo người, thì người môn đệ yêu dấu phải nhận Maria « như là di sản của người » (Ga 19,27) trước khi mà các bạn hữu người nhận thân xác của Thầy từ thập giá và sau cùng là thần khí người được trao ban (19,30 ; 20,22).

Maria và Giuse đã không gặp được chỗ trọ nơi loài người khi đặt Thiên Chúa vào thế giới này. Nhưng Người không sợ hãi phải đến trong chuồng bò. Bởi vì Người không cần những tiện nghi, những thuận lợi xác thịt máu huyết, vì Người nhận sự sống từ thánh ý đời đời của Cha. Ngược lại, người có thể ban cho những ai đón nhận người được sống sự sống của người, được sinh ra từ trên, bởi quyền phép Thánh Thần, và được làm con Thiên Chúa. Người đã trở nên con loài người để chúng ta được nên con Thiên Chúa.

Maria là lều hội ngộ mà Thiên Chúa đã có thể dựng nên giữa loài người để mời gọi họ chia sẻ sự sống của người. Maria là phần nhân loại trong suốt đối với Ánh sáng. Chính từ lòng Maria mà Vinh quang xuất hiện, vinh quang vốn ở trong lòng Cha : chính trong tay người mà những mục đồng và các nhà hiền sĩ đến chiêm ngắm vinh quang. Lề luật và các Tiên tri phải dẫn đưa tới lời chứng của Gioan là kẻ, trong thời gian của loài người, sẽ tự xoá mình để nhường chỗ cho Ðấng vĩnh cửu tiến lên. Hồng ân ban đầu của Thiên Chúa trong Giao ước thứ nhất chỉ mới là phác hoạ của sự Sung mãn đến do Ân sủng. Từ nay, Người Con Một Thiên Chúa kêu gọi, không phải là việc giữ lề luật, nhưng là đón nhận đức tin. Gioan tẩy giả chỉ có thể nhìn nhận mình là không không trước vị Thiên Chúa mà ông trình bày như là người tôi tớ và là con Chiên vượt qua. Maria, người nữ tỳ của Lời đến độ đón nhận Lời vào trong lòng mình, sẽ chia sẻ sự sống được trao ban cho bà : « Hãy làm tất cả những gì người sẽ nói với các ngươi ».

Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.

Những mục tử ra đi sau khi đã kính viếng hài nhi mà Thiên Chúa đã ban ơn cho họ được nhận biết (Lc 2,15). Phần Maria thì giữ cẩn thận tất cả những gì diễn ra và suy niệm trong lòng, bằng cách đọc lại những lời các tiên tri. Trái đất, trong lòng mình, được chính trời cao hoạt động, trái đất tiến tới trong sự tin tưởng, được Thánh Thần nâng đỡ và hoạt động từ thuở ban đầu : trái đất gặp nơi Maria là khe hở nơi đó Lời hằng sống của Thiên Chúa đi qua. Maria đón nhận ý nghĩa tròn đầy của Thánh kinh, và trong đức tin của mình, thấy Thánh kinh được hoàn tất, Maria tiếp nhận, đón nhận và mang Ánh sáng. Tất cả cuộc sống của Maria sẽ được ánh sáng tràn ngập soi chiếu.

Thánh Luca trình bày cho chúng ta thời thơ ấu của Ðức Giêsu như là hoàn tất Thánh Kinh : chính Thiên Chúa được ban tặng như một trẻ thơ. Người không giả bộ đến với loài người, nhưng người được trao ban cho họ và với việc Ðấng cứu thế đến, người công bố và thi hành phán quyết của người : đó là ngày của Thiên Chúa được tiên tri Malakhia loan báo. Thiên Chúa tự trao ban, như một trẻ thơ nhỏ bé. Như thế loài người có thể biểu lộ là họ đón tiếp người trong tình yêu.

Bảy mươi tuần lễ mà sứ thần Gabriel đã loan báo cho Ðanien được hoàn tất khi mà Ðức Giêsu được trình diện nơi đền thờ, sau 6 tháng của Êlizabét, 9 tháng của Maria và 40 tính ngày từ ngày sinh. Giờ đây là lúc « thanh tẩy », không phải là sự thanh tẩy cho Maria, nhưng là sự thanh tẩy của các con cái Lêvi, tất cả những người phải dâng hy lễ cho Thiên Chúa. Cùng với Ðức Giêsu, cuối cùng họ có thể dâng lên Thiên Chúa hy lễ đẹp lòng người, hy lễ « được gọi là thánh » , bởi vì họ đang nắm trong tay, không phải là con đầu lòng của họ, nhưng là Con Thiên Chúa (Lc 1,35 ; 2,23). Cha Laurentin nhấn mạnh việc lặp lại cách nói lạ lùng này, cách nói không thấy trong lệnh truyền của Xuất hành về của lễ là « mọi con trai khai mở lòng mẹ (Xh 13,2). Từ nay, chính hy lễ này đã được hoàn tất cách dứt khoát và nhận được ý nghĩa trọn vẹn của nó : sự thánh thiện của Thiên Chúa Ðấng đi đến cùng tình yêu, được thông truyền cho con người là kẻ đến lượt mình cũng có thể trao hiến cho Thiên Chúa. Thiên Chúa và con người gặp gỡ nhau nơi Ðức Giêsu.

Trong trình thuật Dâng Ðức Giêsu vào đền thờ, đỉnh cao của Tin mừng thời thơ ấu. Trong trình thuật này, Lề luật được hoàn tất hoàn toàn bởi cha mẹ của Ðức Giêsu (Lc 2,22), các ngài được một người được đầy Thánh Thần đón tiếp. Thánh Thần đến gặp những lời dạy của Lề luật để cho họ nhận biết rằng giờ đây họ gặp được sự sung mãn của Lề luật do chính Thiên Chúa bảo đảm : cụ già Simêon nhận ra điều này nơi Ðức Giêsu mà ông bồng trên tay. Từ nay ơn Cứu độ đã hiện diện, ánh sáng các dân tộc và vinh quang của Israel : thế giới cũ có thể chết đi, ông bồng trong lòng mình nguồn suối của việc nâng ông lên ; hy lễ đích thực và quyết định được dâng hiến trong Ðền thờ Thiên Chúa bởi chính Thiên Chúa.

Nhưng sự hoàn tất này vừa bao hàm một điều kiện và một sự khai mở. Và chính Maria là dấu chỉ và là chứng nhân của sự khai mở này, bởi vì nơi chính Maria, khác với tư tế Zakharia, mà chế độ của Ðền thờ và Lề luật tự khai mở đối với quyền năng của Thánh Thần. Ðiều kiện đó là sự khai mở của đức tin vào Lời : trái tim phải để cho sự mới mẻ của Hồng ân Thiên Chúa đi vào. Như thế, mỗi người tín hữu, và toàn dân, nhận thấy mình đối diện với lời đề nghị đón nhận không ngần ngại và không có nâng đỡ bề ngoài. Sự phong phú của một đời sống không còn tùy thuộc vào sự thành công, nhưng là do sự khai mở cho những dấu chỉ của Thiên Chúa được thu tóm trong lời của thập giá. Từ đó, sự khai mở của tâm hồn được hướng về các anh em, về mọi người.

Sự hiện hữu của người tín hữu, và trước tiên của Maria, sẽ được lưỡi gươm đâm thâu qua, ngăn cản Maria không được dừng lại ở vài sự chắc chắn nào đó của ơn cứu độ đã được hoàn tất. Sự sung mãn nơi Thiên Chúa được diễn tả bởi sự tuôn trào liên lĩ của ân sủng, đóng đinh tất cả mọi ham muốn chiếm hữu. Maria sẽ cảm nghiệm điều này, khi Tin mừng thuật lại việc gia đình đi Giêrusalem khi trẻ Giêsu được 12 tuổi. Tường thuật nói rằng cha mẹ Ðức Giêsu hoàn tất Lề luật và từ ngày ở Nazarét, con trẻ lớn lên và nên mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và « đầy ân sủng Chúa ».

Trẻ Giêsu, khi 12 tuổi, ở lại Giêrusalem sau lễ Vượt qua : người ở lại nhà Người trong Ðền thờ. « Sau ba ngày », cũng là ba ngày phân cách Thập giá với Phục sinh, cha mẹ gặp lại người. Maria cho người biết sự lo lắng người gây ra cho cha mẹ, nhưng trẻ Giêsu trả lời : « Cha mẹ không biết là con còn phải ở nơi nhà Cha con sao ? » Sự đau khổ mà bà cảm nghiệm, vượt quá sức, phải chuẩn bị Maria một cách mầu nhiệm để đón nhận sự qui hướng siêu nhiên của Ðức Giêsu về với cha Người và về sự cần thiết của sứ vụ Người. Maria không khỏi vác thập giá để đạt tới sự thực về Ðức Giểu, sự thực về chính ơn gọi làm mẹ của mình. Một mũi gươm phân tách mẹ khỏi những cách hiểu Lời Chúa bình thường. Ở đây Mẹ ở ngọn nguồn của việc hiến dâng của mình, của việc hiến dâng trọn vẹn này làm cho mẹ là « mẹ » cách duy nhất, người hoàn toàn tận hiến cho Hồng ân dành cho mẹ, như mẹ diễn tả điều này khi truyền tin, trước lời đề nghị làm mẹ Ðấng cứu thế.

Maria sẽ cảm nghiệm việc từ bỏ này từ đâu đến và dẫn đưa mẹ đến đâu, dù cho mẹ chưa có thể hiểu ! Mẹ phải thực hiện một bước nhảy vào vô tận ! Và chính sự Vô tận này của Tình yêu mà mẹ phải chiêm ngắm trong đời thường ở Nazarét. Bởi vì Ðức Giêsu không ở lại Ðền thờ. Người đã tuyên bố với mẹ là sự qui hướng duy nhất của người, ngôi nhà duy nhất cuả người là thánh ý của Cha, nhưng Cha, qua người, tự thông truyền qua những thực tại thông thường nhất của đời sống con người. Khi vâng phục Maria và Giuse, trẻ Giêsu tự tỏ mình là người Con vâng phục Cha. Nhưng Maria và Giuse phải hiểu rằng chỉ có từ chính Cha mà các ngài có người con này.

Ðức Giêsu ở Nazarét.

Vinh quang của Thiên Chúa trong Ðền thờ, Vinh quang được chiêm ngắm mà những người chờ đợi như cụ già Simêon và Anna, những người mà từ nay khi đã nhìn thấy Thiên Chúa, có thể chết được. Vinh quang này được nối dài trong cuộc đời bình thường của Maria và Giuse ở Nazarét. Thánh Thần tạo dựng và cứu độ không còn nhận những biên giới Lề luật, Người đến cư ngụ nơi những người để đổ tràn trề ơn người cho thế giới. Nhưng với điều kiện phải vứt bỏ mọi rào cản đóng kín của thế giới này đang bị cám dổ khép kín trong chính mình. Theo hình ảnh của Maria, trái tim của chúng ta phải khai mở cho ân sủng của đức tin, trái tim chúng ta phải để Thập giá đâm thâu qua.

« Ai là mẹ tôi ? »

Là Mẹ của Ðấng tạo dựng mình, Maria phải học trở nên con của chính người Con của mình (Redemptoris Mater, 10-11). Mẹ phải hiểu rằng sự gần gũi của người mẹ với Giêsu diễn tả sự gần gũi của ân sủng. Mẫu tính của mẹ làm cho trái tim của mẹ giống với trái tim của Con mình. Như thế, Maria sẽ âm thầm cùng đi với con rao giảng Tin mừng, một tin mừng gây cho nhiều người vấp ngã. Chúng ta hãy đọc Tin mừng theo Marcô ngay từ những hàng đầu, Ðức Giêsu, một cách nào đó, tiếp nối Gioan Tẩy giả vừa mới bị cầm tù. Người đón nhận những người bạn, kêu gọi họ theo người, đó là những người đánh cá đơn sơ ở bờ hồ Tibêriađê, cũng như những người thu thuế, những người mà đời sống mang nhiều tai tiếng. Người chữa lành các bệnh nhân, và dường như không bận tâm về ngày Sabát ; ngay cả Người làm những hành vi chỉ thuộc về Thiên Chúa mà thôi, ngay cả như tha thứ tội lỗi. Người thiết lập Israël mới cách hoàn toàn tự do chung quanh nhóm mười hai mà người chọn lựa « để họ làm bạn đường và để sai họ ra đi rao giảng cùng với quyền xua đuổi tà thần ». Nhưng những luật sĩ nói : « Chính bởi Quỉ vương mà người xua trừ quỉ ».  Khi đó, người công bố câu nói mạnh mẽ như thế này : « Quả thật, ta nói với các người, mọi sự sẽ được tha thứ cho con cái loài người những tội và lời lộng ngôn mà họ nói ra ; nhưng ai lộng ngôn chống lại Thánh Thần sẽ không bao giờ được tha : nó mắc tội đời đời ». Kẻ đó nhìn thấy sự ác nơi mà Thiên Chúa làm điều thiện : nó tự phá hoại chính nơi mình những hiệu quả, nếu không phải là nguồn gốc do lòng tốt lành của Thiên Chúa ; nó tự ý cắt đứt khỏi trái tim Thiên Chúa.

Thế mà, cuộc tranh luận xoay quanh tương quan của Ðức Giêsu với ma quỉ lại được đóng khung, theo Tin mừng Marcô, bởi hai lần cố gắng tiếp xúc của cha mẹ với Ðức Giêsu. Ngược lại với nhóm mười hai mà người mới thiết lập, những người nhà của người « ra đi để bắt người, bởi vì họ nói : người đã mất trí » (Mc 3,21). Và sau khi tuyên bố tội nghịch lại Thánh Thần, người ta đến nói với Ðức Giêsu : « Kìa mẹ thầy và anh em chị em thầy đang tìm thầy ». Người trả lời họ : « Ai là mẹ tôi. Ai là anh em tôi ? » Và ngước mắt nhìn những người đang ngồi chung quanh người, người nói : « Ðây là mẹ tôi, đây là anh em tôi, bất cứ ai thi hành thánh ý Thiên Chúa, người đó là anh, chị em và là mẹ tôi » (Mc 3,31-35).

Maria không nói gì, mẹ bị lôi cuốn bởi gia đình mà mẹ chỉ liên đới bề ngoài. Nhưng mẹ phải bắt đầu hiểu lời của con trẻ khi 12 tuổi ở Ðền thờ. Họ hàng đích thực của Giêsu được xác định bởi tương quan bên trong với thánh ý Cha. Còn có định nghĩa nào đẹp hơn về mẫu tính của mẹ chăng ? Mẹ, có phúc bởi vì mẹ đã tin, theo lời chúc phúc mà Êlizabét đã nói lên (Lc 1,45), Mẹ không hề muốnđược nhận biết nơi người nữ mà một phụ nữ đã nói lên giữa đám đông về Ðức Giêsu : « phúc cho lòng dạ đã cưu mang thầy và vú đã cho thầy bú ». Nhưng người trả lời : « Phúc hơn cho ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành » (Lc 11,27-28). Maria đã để toàn thể thân xác, tâm hồn, trái tim mình để dâng hiến. Mẹ hiểu rằng Hồng ân của Chúa không thuộc về mình, nhưng mẹ đón nhận hồng ân này mỗi giây phút để rồi chuyển trao lại. Theo Ðức Giêsu, Mẹ đặt tất cả niềm vui của mình trong vâng phục Cha là Ðấng chuẩn bị cho mẹ gia đình đích thực.

Thực vậy, Maria không ngừng để mình được sinh ra trong đời ân sủng mà mẹ được hưởng tràn đày (x. Lumen gentium, 58 ; Redemptoris mater, 10). Maria thiết yếu là người nữ đã đón nhận sự sống trong tin tưởng. Ngay từ thời thơ ấu của Chúa Giêsu, mẹ được dẫn tới chỗ khám phá không gian ở nơi mẹ, hồng ân của Thiên Chúa nhập thể. Maria là người nữ hoàn toàn trao hiến cho Thiên Chúa, như lời mẹ đáp lại lời sứ thần truyền tin, dù là lời truyền tin về Ðấng cứu thế : mẹ đã cho thấy chọn lựa sâu xa của tâm hồn mình đứng trước lời đề nghị xem ra phù hợp đặc biệt với địa vị làm vợ và làm mẹ của mẹ. Từ đó, Thiên Chúa không ngừng thúc đẩy mẹ tiến lên hơn nữa, và mẹ dấn thân lên đường : trên những miền núi xứ Giuđê để thăm viếng người chị họ Êlizabét, rồi sau đó là đi Bêlem để theo chồng của mình, và qua Ai cập để trốn chạy Hêrôđê  cho tới Nazarét là nơi dừng chân lâu dài, nơi mà cuối cùng mẹ có thể quên là mẹ không ngừng tùy thuộc vào sự can thiệp nhưng không của Thiên Chúa. Chính khi đó mà Ðức Giêsu nhắc nhở mẹ, với giá của sự đau khổ tột cùng.

Israel là dân Vượt qua mới, từ khe hở khai mở trong thế giới chính trị hay tôn giáo vốn muốn tự mãn, khép kín nơi chính mình. Khi Thiên Chúa tự trao ban, con người từ chối sự sống mới bằng cách giết chết chính con cái mình, các trẻ sơ sinh. Con người ưa chuộng sự chết hơn lời hứa sự sống đến từ Thiên Chúa. Nhưng ngay cả theo nguyên tắc, hồng ân này được đón nhận, và Israel không thể tự đồng hóa mình với Pharaô hay với Hêrôđê, thế nhưng Israel vẫn luôn ở thế ngờ vực : các luật sĩ ở Giêrusalem đã không biết đi Bêlem cùng với các hiền sĩ, và cuối cùng thì họ bằng lòng với những hy lễ trên bàn thờ vì sợ hãi và vì những thói quen cũ kỹ. Phần Maria, Mẹ phải tiếp tục khai mở cho sự can đảm của Thiên Chúa.

Maria chỉ là mẹ do bởi Thánh Thần, do bởi tiếng vâng với Thiên Chúa vô cùng mong mang. Maria là mẹ nếu, cùng với Con của mình, mẹ được đón nhận bởi Cha, và bởi thánh ý tốt lành của cha, không để cho mẹ bị rơi vào tình trạng của việc cưu mang thể lý, một sự cưu mang cuối cùng tách rời mẹ khỏi những liên lạc tình yêu thần linh nối kết mẹ với Chúa Con vĩnh cửu. Khi Giêsu được 12 tuổi, Maria không hiểu những gì xảy ra với con. Khi Maria cùng đi với con trên đường, mẹ sẽ gặt hái hoa quả của hạt giống đã được gieo và vun trồng kiên nhẫn trong lòng mình : mẹ học biết giữ lời và xứng đáng hưởng hạnh phúc đức tin.

Nếu những bước đi của Maria còn gặp được những bước đi của Ðức Giêsu, đó là để nói lên sự khai mở trong tâm hồn. Thiên Chúa không giữ Con của mình, Chúa Con cũng không đòi được ngang bằng với Cha : Cha và Con đều sống bằng Thánh Thần không ngừng đổi mới. Maria sẽ lên đường, cùng với Thánh Thần. Chúa Giêsu muốn nhắc nhở những người muốn dừng lại cách dễ dàng ở những mối liên hệ thân thuộc gia đình con người, những gần gũi tự nhiên. Maria vui mừng được thông hiệp thiêng liêng với Chúa Giêsu trong việc đón nhận Lời, hơn là tình mẫu tử theo xác thịt chước miễn cho mẹ khỏi phải dấn thân trong đức tin. Các môn đệ cũng vậy, cũng phải trở nên như những trẻ thơ hoàn toàn tin tưởng thay vì tìm kiếm chiếm hữu vinh quang lợi lộc, một cuộc cách mạng đem lại cơm bánh tự do.

Nhờ cầu nguyện, Chúa Giêsu thoát khỏi những cám dỗ của những người thân cũng như những theo đuổi của những đối phương mình, cho đến lúc dâng lời tạ ơn Cha bằng hiến lễ cuộc đời của Người. Maria sẽ là người môn đệ đầu tiên, kẻ đã nhận và trao tặng sự sống Thiên Chúa.

Giờ của Bà « Mẹ của Ðức Giêsu có ở đó ».
« Hãy làm những gì Người nói với các anh »

Maria là người mẹ bởi vì người là trẻ thơ ; bởi vì người không tự tin cách nào hết nơi nguồn sự sống nơi mẹ, mẹ chuyển thông với sự tinh tuyền hoàn hảo Hồng ân Thiên Chúa, Thánh Thần Thiên Chúa đang tràn đầy nơi mẹ. Chính khi đó là giờ của tạo dựng mới, khi Thiên Chúa có thể xuyên qua loài thụ tạo mà không gặp nơi mẹ bất kỳ cản trở nào : chính người cũng là trẻ thơ nhỏ bé, được đón nhận trong lòng tin, được trao tặng cho người nghèo, cho người xa lạ đang tìm kiếm Người trong tin tưởng và đón nhận trong trái tim lời loan báo Tin mừng.

Nhưng với giá nào mà sự trong suốt này đã đạt được ? Chỉ có Thiên Chúa có thể khai mở con đường dẫn tới Ngài, khi tội lỗi làm con người lạc xa khỏi vận hành của tình yêu. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể lại làm cho ánh sáng tuôn tràn vào lòng bóng tối. Ngài chỉ muốn gặp từ đáy đêm đen một ánh sáng đáp lại ngài.

Thiên Chúa không sợ hãi bóng tối, và ngài đã có thể gặp được một thụ tạo cũng đã chiến thắng sự sợ hãi, một thụ tạo không hề sợ hãi đánh mất chính mình bằng cách mở cửa cho Thiên Chúa, một thụ tạo hoàn toàn hiến dâng. Sự trao hiến này phải chấp nhận sống không hề có chút đền bù nào theo kiểu loài người. Thiên Chúa, để cứu độ thế gian khỏi cái chết ích kỷ của tội lỗi và sự đóng kín trong chính mình, đã phải vượt qua cái chết. Loài thụ tạo nhận việc tiếp đón Ngài cũng phải cảm nghiệm sự độc dữ của bóng tối để cho bóng đêm được ánh sáng soi chiếu vào.

Ở đây, chúng ta được mời gọi khám phá sự hiện diện của « mẹ Ðức Giêsu » trong Tin mừng theo Gioan. Không có lời chào của sứ thần trong lời chào truyền tin, ở đây, Maria chỉ được gọi bằng tên riêng của mình. Mẹ can thiệp ở hai nơi thực đặc biệt quan trọng đối với sứ vụ của Ðức Giêsu, vào lúc Người phải thực hiện « những dấu chỉ đầu tiên » để biểu lộ Nước Thiên Chúa đến, và khi mà Người hoàn tất sứ mạng trên thập giá, vào lúc mà loài người chỉ có thể trao tặng dấm chua để giải khát cho Giêsu đang hấp hối : khi đó « mọi sự được hoàn tất », Ðức Giêsu không còn gì cả, chỉ còn có thể trao hiến Thánh Thần cho mẹ là người đón nhận.

Maria chỉ là « mẹ của Giêsu » : mẹ đứng đó, mẹ đứng thật gần, và Ðức Giêsu gọi mẹ là « Bà ». Với hai từ này, tất cả sứ vụ, tất cả con người của mẹ được loan báo ; với hai từ này, và không nhắc đến tên riêng của mẹ, Mẹ hoàn toàn liên hệ với Giêsu, Mẹ không là gì cả tự mình ; mẹ ở đó khi Thiên Chúa cần tới mẹ trong việc sinh hạ. Bởi vì Thiên Chúa là như thế, là việc sinh hạ Con duy nhất. Và ước muốn duy nhất của Ngài là chia sẻ cho chúng ta người Con này, là đưa chúng ta vào thông hiệp sự sống của ngài.

Giao ước giữa Thiên Chúa và loài người sẽ được nối lại. Ðổi mới, làm lại, và không chút giới hạn, hay dè giữ trong lần này, hết mọi người sẽ có thể chiêm ngắm khuôn mặt Thiên Chúa, ngồi đồng bàn với Ngài, cùng ăn bánh, uống rượu mà ngài dọn sẵn, chính sự sống của ngài, sự sống thần linh. Vào lúc ký giao ước trong sa mạc, chỉ có 70 vị bô lão trong Israel được nhận lên núi Chúa. Máu của các tế vật được chia sẻ, một nửa trên bàn thờ, một nửa trên dân chúng, trong khi đó dân chúng tuyên bố : « Tất cả những gì Thiên Chúa nói, chúng tôi sẽ thi hành và chúng tôi sẽ nghe theo ». Ðoạn những vị bô lão đã có thể chiêm ngắm Chúa, và mừng lễ trước nhan ngài (Xh 24,1-11). Ðây là ưu tiên duy nhất của việc hiệp thông với Thiên Chúa do bởi đặc ân máu Giao ước. « Hãy làm tất cả những gì Người nói với các anh » : Maria sẽ nói lệnh truyền này cho những người phục vụ ở tiệc cưới Cana, và tất cả mọi người có thể vui hưởng rượu mới, trong khi Ðức Giêsu biểu lộ vinh quang của người trước mặt những người tin. Nhưng họ còn phải tự để mình được dẫn tới núi này, gần nơi lễ vật hiến tế duy nhất mà Thiên Chúa ưng nhận, từ đó máu Giao ước và nước thanh tẩy quyết định sẽ tuôn chảy ra. Chắc hẳn, « bà » không xa lạ với Mầu nhiệm này, là mầu nhiệm tái tạo công trình tạo dựng tận ngọn nguồn và đưa nó tới thành tựu.

Chúng ta cùng hẹn gặp ở « ngày thứ ba », cuối tuần lễ biểu tượng nhờ đó Ðức Giêsu khai mào sứ vụ của người. Người đàn bà – nhân loại đã sinh đức Giêsu vào đờiđ ến dự lễ cưới mà cuộc lễ trong làng cho phép gợi lên hình ảnh biểu tượng. « Mẹ Chúa Giêsu cũng có mặt ở đó », cũng đến từ phía của mình, trong khi Ðức Giêsu và các môn đệ cũng được mời. Mẹ của Ðức Giêsu đã dẫn đưa sự chờ đợi của Israel tới đích điểm, Israel mà Thiên Chúa, qua Giao ước, đã chọn như là hiền thê. « Trái đất đã phát sinh hoa trái » : nhưng còn phải cho toàn nhân loại chấp nhận sự kết hiệp với Thiên Chúa của mình, ở tận cùng tội lỗi của mình, nhân loại để Ðấng yêu thương mình và tìm kiếm mình viếng thăm và gặp gỡ, và chính nhân loại cũng lên đường để phù hợp với tình yêu trao hiến cho mình : bởi vì nhân loại sẽ không được cứu độ bởi một hành vi độc đoán, tâm hồn của mình phải khai mở cho ơn cứu độ và tham dự vào hành vi của Ðấng cứu độ.

Như thế, Ðức Giêsu vừa là vị Thiên Chúa đến gần con người, và vừa là con người liên đới với tội lỗi của anh em đồng loại mình, là con người sẽ cảm nghiệm sự vắng mặt của Thiên Chúa, để cắm Hồng ân Tình yêu nơi mà tình yêu luôn bị từ chối. Nhưng con người cần đến người nữ, thụ tạo này, người nữ đầu tiên đã nói không với giao ước, bởi vì bà không chấp nhận một cuộc sống được liên kết và đã muốn tự lập cho riêng mình, « bằng Chúa » : con người cần tới người nữ nói thưa vâng để cho nhân loại tội lỗi thực sự được hòa giải và thực sự được nối liền với Ðấng tạo dựng của mình bởi hôn nhân vững bền. Không có người nữ này, nhân tính của Ðức Giêsu sẽ là một ngoại lệ, được thúc đẩy bởi Thiên Chúa trong thế giới chúng ta, nhưng không có liên hệ hữu hiệu với lịch sử thực sự của chúng ta.

Nhưng « mẹ của Ðức Giêsu có ở đó », phát xuất từ nhân loại. Mẹ là vô danh, bởi vì mẹ đại diện chúng ta, mẹ trình diện chúng ta cho Con mẹ : « họ hết rượu rồi », rượu của tiệc cưới đã cạn. Từ vườn nho đã tuyển chọn của ngài, Thiên Chúa chỉ nhận được toàn dấm chua (Is 5,1-7). Và lúc này, các chum đều cạn, sáu chum lớn được dùng cho nghi thức thanh tẩy những người do thái : những nghi thức cuối cùng bây giờ được dùng ; con người trần truồng trước ThiênCHúa. Và Thiên Chúa chỉ có thể chạnh lòng vì thương xót trước sự thống khổ của con người. Maria biết điều đó, mẹ không đòi gì cả, nhưng chỉ cho thấy sự thiếu thốn của nhân loại, cũng như hai người chị của Lazarô, đã sai người đến nói cùng Giêsu : « Thưa thầy, người thầy thương đang bệnh » (Ga 11,3).

Cũng như đối với cơn bệnh của Lazarô, Chúa Giêsu không trả lời ngay, Người khai mở không gian chờ đợi. Giêsu, người đã đáp lời mời tham dự tiệc cưới, Giêsu người quen lui tới Bêthania như nhà mình, Người làm cho các bạn phải chờ đợi : « Khi nhận được tin Lazarô đang lâm bệnh, Người còn ở lại ở đó hai ngày ». Phải chờ tới ngày thứ ba, cần phải cho thời gian trôi qua, thời gian hãi hùng của bóng đêm và sự chết » (Ga 11,6-16). Chỉ lúc đó « vinh quang Thiên Chúa » mới có thể biểu lộ, bởi vì tình yêu ngỏ lời với tình yêu, chứ không phải là thỏa mãn sự chờ đợi điềm lạ. Ðức Giêsu cần đến đức tin, Người muốn thúc đẩy đức tin (Ga 11,4.15.25-27.40).

Lời của người nữ khám phá trước mặt Thiên Chúa vực thẳm tội lỗi và sự chết trong đó chính người phải ngụp lặn để cứu độ loài thụ tạo của người : giờ gần đến để đi đến cùng tình yêu. « Bây giờ, tâm hồn thầy xao xuyến, biết nói gì đây ? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này ! Nhưng chính vì đó mà con đến vào giờ này ! Lạy Cha, xin tôn vinh danh cha » (Ga 12,27). Ðức Giêsu sẽ là hạt lúa mì gieo xuống đất để chết đi và mang lại hoa trái. Lời cầu xin đơn giản của Maria và hai người chị của Lazarô vén tỏ trước mắt người viễn tượng này của tình yêu vô tận làm cho người phải rời bỏ cung lòng Cha để lôi kéo con người từ hư vô.

« Thưa bà, bà muốn tôi làm gì ? » Ðây cũng là một lời tuyên bố tương tự do một quan toà trong Israel tuyên bố trước các quân thù của mình, để chứng tỏ rằng họ không có gì là chung với nhau (Tp 11,12). Ðây cùng là lời được đặt nơi miệng ma quỉ từ chối Con Thiên Chúa (Mt 8,28). Ngay cả nếu lời tuyên bố này là mơ hồ và nói cho cùng có nghĩa đơn giản : « có gì giữa chúng ta, tôi với bà ? », dầu vậy, chúng ta được mời gọi đọc thấy ở đây diễn tả một sự ngạc nhiên mà chắc hẳn, nếu muốn hiểu rõ thì chúng ta cần nhớ lại câu nói về giờ của Ðức Giêsu, lần đầu tiên được nói tới trong tiệc cưới ở Cana, nơi đó Con Chiên Thiên Chúa lần đầu tiên tự biểu lộ.

Ðức Giêsu được đặt trước sự trống rỗng của con người mà người phải lấp đầy bằng một tình yêu không giới hạn. Người, Trưởng tử của Thiên Chúa, đã không đòi cho được ngang hàng với Thiên Chúa. Ðức Giêsu đứng trước không gian phân cách mà tội lỗi của con người không ngừng khơi rộng bởi sự từ chối để mình được yêu thương. Chính vì thế người đàn bà đang kêu gọi được ngài nhắc nhở sống kinh nghiệm tình yêu. Không gian phân cách với Cha, mà Con phải đi lại để gieo trồng ở đó lòng tin tưởng, đó cũng là không gian phân cách mẹ với con của mình nếu bà chỉ muốn yêu thương. « Hỡi bà, có gì giữa bà và tôi ? » Có không gian tình yêu, làm cho tôi phải rời khỏi cung lòng Cha để đến và cứu độ loài người, không gian đó sẽ làm cho bà cũng phải lên đường theo tôi để trái tim của bà cũng như trái tim của tôi bị xé rách bởi lưỡi gươm để cho giữa nhân loại và Thiên Chúa, sự tháp nhập đời sống mới được thành tựu. Cuối cùng Maria sẽ bị phân cách với con của mình cũng như chính người đã bị phân cách với Cha : giữa các ngài không hề có liên hệ chiếm hữu thể xác, nhưng chỉ là sự duy nhất trong Tình yêu, đời sống thần linh, quyền năng Phục sinh.

Cũng như trong Tin mừng Luca, mẹ của Ðức Giêsu có thể không hiểu những gì người nói với bà, nhưng bà biểu lộ một thái độ tin tưởng. Bà là kẻ đã có thể đáp lại tiếng thưa vâng ưng thuận với sứ thần cho công trình của lời nơi mình, có thể bây giờ nói với những gia nhân hành động theo những gì Ðức Giêsu nói. Như thể là, khi đã sinh Giêsu vào cuộc đời nhân loại, giờ đây bà lại sinh lại người cho sứ vụ thần linh ! Vai trò của người rất quan trọng trong câu chuyện tường thuật này khi mà bà được nhắc đến trong 5 câu trên 12. Bà ở ngã tư của hồng ân Thiên Chúa và nhân loại đón tiếp Ngài. Bà chứng nhận sự tham dự được chờ đợi nơi con người vào công trình ân sủng : đó là lời đáp trả tích cực của đức tin.

Maria chỉ có thể trao tặng những gì bà đã nhận lãnh, dấu chỉ tin tưởng. Và Thiên Chúa trao hiến hoàn toàn dư dật. Chất lượng rượu được cung cấp vượt quá nhu cầu tiệc cưới : sáu trăm lít ! Nhưng Thiên Chúa không tính số lượng thực khách để phân phát hồng ân của ngài. « Không như manna mà cha ông các ngươi ăn trong sa mạc. Manna được phân phối theo nhu cầu » (Ga 6,48-58). Từ nay, Thiên Chúa tự hiến chình mình, để ban tặng đời vĩnh cửu, và chính « giờ đây », thời gian cuối cùng, thời gian tiệc cánh chung và tiệc cưới Thiên Chúa với dân người. Hết rồi thời than khóc (Is 24,7-9) : « Thiên Chúa sẽ thiết đãi mọi dân tộc trên núi này một bữa tiệc đầy thịt béo rượu ngon » (Is 25,6). Gia đình tự nhiên của Giêsu, dân tộc theo xác thịt, sẽ nhập đoàn với những người mà người đã chọn lựa và mời gọi cách nhưng không : tất cả mọi người cùng xuống Capharnaum. Ân sủng từ nay nối kết mọi người trong tình yêu của Cha.

« Mẹ của Ðức Giêsu » là người môn đệ đầu tiên của Con mình trong ánh sáng đức tin. Nếu bà đã có thể sinh Con của Cha, chính là vì bà đã hoàn toàn sẵn sàng cho tình yêu của Người. Và nếu Ðức Giêsu có vẻ gây ra, đối với bà, một khoảng cách, đó là để cho sự gần gũi thực sự được biểu lộ, sự gần gũi nối kết người với « người đàn bà » này, người phụ nữ đã thưa vâng trong tin tưởng, và khơi sâu trong tâm hồn các tín hữu không gian triển nở mới. Bởi đức tin, Maria thực sự là mẹ của Ðức Giêsu, mẹ của người con vâng phục Cha, người con chỉ hành động đáp lại ý muốn thương yêu của Cha, đáp lại tiếng kêu của con người làm vang lên tiếng vọng bất tận trong trái tim người. Bởi đức tin, Maria trở thành mẹ các môn đệ, những người anh em thực của Ðức Giêsu, những người sẽ nhận ra Vinh quang của người. Giữa Maria và Giêsu xuất hiện khoảng không gian tình yêu của đức tin. Không có hiệp thông nào lớn hơn giữa hai người mà sự tin tưởng này đươc chia sẻ : nó là phản ảnh được tạo ra do sự hiệp thông giữa các Ngôi vị thần linh trong sự vĩnh cửu của tình yêu và hồng ân.

« Hỡi bà, này là con bà ».

Giờ đây mọi người được mời gọi tham dự vào cuộc Vượt qua, đón nhận đời sống mới được thông ban, không còn trong Ðền thờ dựng nên do tay người đời, nhưng là trong thân mình Ðức Giêsu (Ga 2,19-21). Ðó là sinh lại trong nước và Thánh Thần, một sự sinh hạ bao hàm thể xác trần gian được chìm ngập trong nước nguồn sự sống, giờ đây sẵn sàng bởi quyền năng Thánh Thần từ trời (Ga 3). Từ nay đức tin khai mở Nước Trời, « nơi mà những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Cha trong tinh thần và chân lý » (Ga 4,23), bởi vì ngay từ hôm nay, chúng ta có thể hướng mắt về « Con người được nâng lên », kẻ nối kết trời và đất (Ga 1,51 ; 2,13-14). Nicôđêmô, « bậc thầy trong Israel », trong đêm tối tìm tới với Ðức Giêsu mà ông đoán nhận ; nhưng người lại ban tặng cho người đàn bà xứ Samaria vào giữa trưa, ánh sáng cứu độ phát xuất từ người do thái, và khi trở về Galilê sau hai ngày ở nơi những người xứ Samaria (Ga 4,40.43), Ðức Giêsu lại thấy đức tin phát sinh nhờ lắng nghe Lời (Ga 4,41.50), một đức tin không dựa trên những lời đồn thổi của người khác hay trên những dấu chỉ điềm thiêng, nhưng là trên sự gặp gỡ giữa tâm hồn Thiên Chúa ban tặng và con người đón nhận.

Mẹ của Ðức Giêsu, người đầu tiên, hẳn đã phải không cần đến những dấu chỉ để là mẹ trong đức tin, người mẹ, sáng chói với tình phụ tử của Thiên Chúa, được chia sẻ cho mẹ bởi sự gắn bó với người Con : « Con chỉ có thể tự mình làm những gì đã thấy Cha làm, nhưng tất cả những gì Cha làm, Con cũng làm như vậy » (Ga 5,19). Ðó là mầu nhiệm sự sống của người và của sự sinh hạ vĩnh cửu, được trao hiến cho những người môn đệ đích thực, những người không nghĩ chiếm hữu như một quyền lợi tự do của những người con cái Abraham, nhưng chấp nhận để mình giải thoát khỏi tình trạng nô lệ tội lỗi bởi chân lý đến từ Thiên Chúa. Những người do thái không chấp nhận sự trào vọt của Lời mới mẻ. Phải chăng họ còn đi đến chỗ cho rằng Ðức Giêsu được sinh ra do ngoại tình, trong khi họ chỉ có Cha là Thiên Chúa (Ga 8,41). Mầu nhiệm của sự sinh hạ vĩnh cửu của Con, trong mọi trường hợp, được Ðức Giêsu công bố trong khi tranh luận với những người do thái vốn từ chối khai mở cho hồng ân sự sống mới. Và Maria, vốn không xuất hiện trong những cảnh này, đã âm thầm tự chuẩn bị đảm nhận cho tới cùng sứ vụ làm mẹ của mình : mẹ không chiếm hữu Thiên Chúa, nhưng đón nhận Người bằng sự trung tín khiêm nhường đối với Lời ; mẹ là người nữ tự do trong tình yêu, có thể chấp nhận đau khổ gây ra do con người bởi tội lỗi của họ và thấy sự đau khổ này được biến đổi thành những đau khổ sinh hạ do bởi ân sủng và Thánh Thần của Cha.

Maria có thể nhận ra mình cách mầu nhiệm nơi « người đàn bà » mà Ðức Giêsu gọi khi những người tố cáo muốn ném đá bà ra đi. « Hỡi bà, họ đâu cả rồi ? Không có ai kết án bà sao ? » (Ga 8,10). Những người ngoại tình thực sự là những kẻ thêm vào tội của mình sự kết án tội người khác : họ là những người đồng loã với Tên nói dối, cha sự dối trá, kẻ giết người từ đầu (Ga 8,44). Những người do thái phán đoán theo xác thịt và tự đóng kín trong xác thịt, họ tự loại mình khỏi Vương quốc thương xót, nguồn duy nhất của đời sống (Ga 8,9). Ðức Giêsu không phê phán ai (Ga 8,15) : « tôi không đến để phán xét thế gian, nhưng để cứu độ thế gian » (Ga 12,47), bởi vì Thiên Chúa muốn ban tặng sự sống nhờ Con (Ga 3,17). Thiên Chúa muốn thông truyền cho thế gian niềm vui của sự sinh hạ của Người Con duy nhất, niềm vui của Ngài, chính đời sống của Ngài. Người Con từ đời đời đón nhận Thánh Thần và ban tặng Thánh Thần, vì thế Người tham dự vào chính sự sinh hạ của mình. Các môn đệ nhận được sự tha thứ và hoàn toàn dấn thân trong tin tưởng, theo hình ảnh của người « đàn bà » vượt qua nỗi buồn của việc sinh hạ đau đớn, bởi vì bà đón nhận hồng ân sự sống (Ga 16,21). Những đau đớn của sự sinh hạ gìn giữ trong nhân loại ký ức của sự từ chối nguyên thủy lời hứa của Thiên Chúa, nhưng những đau khổ này có thể được thấm nhuần bởi hành vi phó thác trọn vẹn cho Ðấng hoàn toàn hiến mình. Như thế người đàn bà không ban tặng sự sống cho người con mà đến phiên mình nó đi tới sự chết, nhưng bà tham dự vào sự phong phú vĩnh cửu của Thiên Chúa : « thầy sẽ gặp lại anh em, và tâm hồn anh em sẽ vui mừng, và không ai có thể lấy đi niềm sự vui mừng của anh em » (Ga 16,22).

Gioan tẩy giả đã cảm nghiệm trước niềm vui này, và ông đã được tràn đầy Thánh Thần (Ga 3,29). « Kẻ nào tin vào Chúa Con thì có sự sống đời đời » (Ga 3,35). Ðức tin thực sự làm tham dự vào sự trao đổi Sự sống của Thiên Chúa Ba ngôi là sự sống ban tặng và đón nhận cách vĩnh cửu. Người đàn bà đã đón nhận cách hoàn hảo Hồng ân Ân sủng trong thời gian của thế giới này là người đàn bà đón nhận sứ mạng chuyển giao hồng ân này, từ lòng tin tới lòng tin.

Như thế, Ðức Giêsu hoàn toàn tự hiến. Vác thập giá đi ra ngoài thành, người đảm nhận vai trò của con chiên hy tế, đồng thời vai trò của linh mục đang tiến lên bàn thờ để sát tế lễ vật. Người là vị vua được nâng lên trên dân chúng để xét xử dân chúng, con người duy nhất đích thực đối diện với sự bất nhân chung của người do thái và dân ngoại. Nhưng Ðức Giêsu, bị giao nộp cho Philatô và bị quân thù cầm giữ, vẫn luôn làm chủ tình thế, và đi cho đến cùng hiến dâng của mình. Y phục của ngài được phân chia làm bốn, trong khi tấm áo của ngài không bị phân chia, nhưng bị quân lính rút thăm.

Ðó là những gì mà quan lính đã làm, trong khi mà gần bên thập giá của Ðức Giêsu, mẹ người đứng đó. Giữa hai cảnh tượng này một mối liên hệ dị nghĩa được thiết lập : đó là việc chuyển thông một di sản, cùng một sự sống. Ðức Giêsu đã mang thập giá của mình, người để bị tước đoạt các y phục của mình, người sẽ ban tặng người mẹ vào lúc trao ban Thánh Thần.

Người mẹ không luôn được nhắc đến, tên của bà như thể được hai người đàn bà khác cùng trùng tên, gần bên bà có Maria Clêopha và Maria Mađalêna. « Ðức Giêsu thấy mẹ và môn đệ gần bên bà, người môn đệ người thương mến, nên nói với mẹ : Thưa bà, này là con bà. Ðoạn người nói với môn đệ : Này là mẹ con. Và từ lúc đó, môn đệ đưa người về nhà mình ».

Maria đã có thể suy niệm trong lòng những lời của sứ thần : « Người sẽ nên cao trọng… Thiên Chúa sẽ ban cho người ngai báu Ðavít tổ phụ người : người sẽ cai trị trên nhà Giacóp muôn đời và triều đại người sẽ vô cùng tận » (Lc 1,32-33). Ở dưới chân thập giá, Maria đã chứng kiến nói được sự thực hiện của lời loan báo này. Giêsu được mặc áo đỏ như những vị vua, và trước mặt mẹ đó, được treo lên và được đội vòng gai, trong khi tấm bảng treo trên đầu bằng tiếng do thái, la-tinh, hy lạp rất rõ ràng : « Giêsu người Nazarét, vua người do tháỉ. Làm sao chấp nhận được rằng áo choàng của người là đề tài chế diễu, vòng vương miện lại là vòng gai, và ngai toà danh dự là thập giá ? Phải chăng Thiên Chúa chế diễu đến độ này ?

Và giờ đây, để hoàn tất việc đóng đinh tâm hồn mình, bà còn nghe những lời mà không người mẹ nào có thể chấp nhận : « Bà đã mất con, nhưng xin bà yên tâm, đây là người con khác thay thế cho con bà ». Giêsu là người Con duy nhất của xác thể và tâm hồn bà, chính người lại tuyên bố lời này. « Chắc hẳn, chính đây là sự tự hủy của đức tin, sự tự hủy sâu xa nhất trong lịch sử loài người. Mẹ đã trao hiến tất cả chính mình để luôn sẵn sàng cho hồng ân Chúa. Giờ đây mẹ còn phải để mất người con này mà Thiên Chúa đã cho mẹ. Mẹ đi đến cùng hy lễ của Abraham hiến tế con mình là Isaác, mẹ đi đến cùng việc hiến dâng của Cha, là trao nộp Con một vì tình yêu.

Mẹ, không còn là Maria nữa, nhưng là « mẹ của Giêsu », mẹ chỉ trở nên « mẹ », người « đàn bà » đón nhận người môn đệ, không phải là để trú thân nơi nhà môn đệ, nhưng làm cho chỗ ở của người môn đệ nên chỗ ở của Thánh Thần. Nếu Ðức Giêsu có thể tuyên bố những lời này, đó là vì những lời này không rơi vào hư vô ; những lời này là những lời đến với chúng ta. Người môn đệ Ðức Giêsu yêu thương không có căn cước nào hơn là căn cước của lòng trìu mến được đón nhận bởi chính lòng Thiên Chúa, sự trìu mến sẽ được sáng tỏ một khi đi vào mồ vào ngày đầu tuần, người môn đệ có thể nhìn thấy và tin (Ga 20,8) : lúc này, người môn đệ nhìn thấy sự trìu mến của người me mà trong sự thầm lặng của đức tin, đón nhận những lời sinh hạ đời sống mới : « này bà, đây là con bà ». Người con này, chính là tôi hôm nay, không còn nguồn mạch nào khác hơn là đón rước vào nhà tôi người mẹ, nếu tôi muốn đứng vững và tin tưởng trong đêm tối.

Ðổi lại dấm chua mà tôi trao cho người, Ðức Giêsu có thể trao ban cho con người Thần khí, nước và máu ; những điều này sẽ không bị mất đi, nhưng người đã ban cho chúng ta người mẹ để đón nhận và giữ gìn những bảo vật này cho đến sáng, để đến lượt mình, tôi sẽ thức dậy trong lòng tin. Maria xuất hiện, vào ngày hưu lễ này, trong sự rạng rỡ của con người mẹ : không phải những liên hệ xác thịt ràng buộc mẹ với Ðức Giêsu, mẹ thực sự « là một tạo thành mới trong Ðức Kitô ; những gì xưa cũ đã qua, này đâymột thế giới mới được sinh hạ » (2Cor 5,17 ; Is 43,18-19 ; Kh 21,1-5). Maria chỉ biết Chúa Kitô cũng như mẹ vẫn hằng luôn biết người, mẹ biết người theo Thánh Thần.

Maria không cần con của mẹ hiện ra vào ngày Phục sinh. Mẹ đã nhìn ngắm con của mình với cặp mắt đức tin, cùng với cặp mắt Thiên Chúa, dưới những nét của người môn đệ, hoàn toàn được mặc bởi tình yêu của người Con một. Từ nay, trái tim Thiên Chúa được dốc cạn trong một loài thụ tạo hiểu được Ngài và chia sẻ Ngài, và để cho Ngài sống sự Thương khó đầy yêu thương của mình cho tới cùng. Thực sự, thế giới hiện hữu bởi vì thế giới đón nhận Thánh Thần, bởi vì thế giới biết yêu thương. Chính vì thế, « sau đó », và chỉ sau đó, Ðức Giêsu biết rằng « mọi sự đã hoàn tất » : sự sống của Thiên Chúa có thể được khai triển trong thế giới. Chính vì thế sự thương khó của Maria liên hệ mật thiết với sự thương khó của Ðấng cứu thế : Giờ của Ðức Giêsu cũng là giờ của Bà. Thánh Gioan Eudes có thể nói rằng Trái tim của Ðức Giêsu và của Maria chỉ là một vì ơn cứu độ.

Maria là Evà mới được đón nhận ở tận Nguồn sự Sống và đến lượt mình mẹ sinh hạ sự sống khi mẹ nhìn thấy thân xác của Ðức Giêsu, ngủ yên trong sư chết, để chảy ra từ cạnh sườn mình nước và máu Giao ước, được thiết lập trên sự ban tặng và đón nhận Thánh Thần giờ đây được trao hiến. Tất cả những gì mà trước đây mẹ sống, và đặc biệt là tiếng thưa vâng khi truyền tin, gặp được ở đây nguồn gốc của nó : Maria, trong lòng tin, đáp lại Hồng ân Thiên Chúa. Mẹ là nhân loại bị tước đoạt mất hết mọi cao vọng, mọi kiêu căng. Hoàn toàn làm mất đi chính mình và mọi đòi hỏi đối với người Con mà Chúa Cha trao cho mẹ, mẹ sống bằng Thánh Thần của Người vốn chỉ là trao hiến và chuyển thông sự sống.

Maria đã chỉ có thể sinh Ðấng Cứu thế bởi vì mẹ sẽ hoàn toàn khai mở và kết hiệp với sứ vụ cứu độ bởi thập giá. Ðó chính là những gì mà Tin mừng thời thơ ấu cho thấy, khi tin mừng trình bày trẻ thơ và mẹ người trên con đường lưu đày, đến độ mà Ðức Giêsu là người con của sự giải thoát : « Từ Ai cập, Ta đã gọi Con Ta » (Mt 1,15). Việc hạ sát những trẻ sơ sinh chỉ có ý nghĩa bởi vì một ngày kia Người vô tội duy nhất sẽ trao hiến cách tự do cuộc đời của mình trên thập giá. Từ đó, Symêôn có thể hiểu việc Dâng Chúa Giêsu vào Ðền thờ như là việc trao hiến Người Con một duy nhất, hiến tế chung của Chúa Cha Ðấng trao ban Người cho thế giới, và chung với nhân loại sẽ được đâm thâu bởi cùng sự thương khó của tình yêu. Maria và Giuse sẽ không chậm trễ nhận ra nỗi lo âu của sự phân cách với con trong suốt ba ngày Phục sinh ở Giêrusalem, khi Người được 12 tuổi.

Maria, hoàn toàn liên hệ với Ðức Giêsu, sẽ trao hiến người cho nhân loại mà người cần đến để đáp lại Cha và lôi kéo chúng ta trong tình yêu. Ðức Giêsu là con người với chúng ta, và chúng ta không phải chỉ là một gói đất cần phải chuyển về trời. Thân xác chúng ta, trí tuệ và ý chí chúng ta đều liện hệ và được động viên cho ơn cứu độ. Như thế, Maria là phần nhân loại ưng thuận với công trình Thiên Chúa.

Chúa Kitô, con người duy nhất, không cần phải cứu chuộc, người duy nhất nhờ đó chúng ta đạt tới đời sống thần linh, đã hoàn tất công trình của mình : người làm cho chúng ta được tham dự vào đời sống của người bằng cách ban cho chúng ta Thánh Thần của Cha, được Maria đón nhận dưới chân thập giá. Như thế, Mẹ trở nên người mẹ của chúng ta, gương mẫu và là trạng sư của chúng ta, nhận được vai trò của mình nhờ Thánh Thần an ủi, thúc đẩy trong mẹ tiếng thưa vâng giống với tiếng thưa vâng cứu độ, với tiếng thưa vâng vĩnh cửu của Con với Cha : tiếng thưa vâng này mà thư gửi tín hữu Do thái đặt trên môi miệng Chúa Kitô « khi vào thế gian » (Dt 10,5), được hoàn tất ở đồi Can-vê trong đêm tối và trong đau khổ ; Maria, đứng gần bên Con mình, cũng cắm rễ tiếng vâng ngày Truyền tin trong mầu nhiệm Vượt qua.

Nếu Maria đứng dưới chân thập giá, đó chính là cũng với những tâm tình của ngày đầu tiên. Con Thiên Chúa đã chỉ có thể được thành hình nơi mẹ, được sinh ra bởi mẹ, là vì mẹ đã trao tặng cho người đức tin được nâng đỡ bởi Thánh Thần của mình, đức tin đã thấm nhập vào toàn thể con người của mẹ, bởi vì mẹ không chỉ trao tặng chất liệu cần thiết cho việc Nhập thể. Ðức tin này, đã được vận dụng trong suốt cuộc đời và sứ vụ của Ðức Giêsu, cũng được thanh tẩy cách tuyệt vời bởi cái chết của người. Maria hoàn toàn gắn kết với Ðức Giêsu, sự từ bỏ của người là tiếng vọng của tiếng kêu của Ðức Giêsu trên thập giá, tiếng vọng của sự tự hủy của Thiên Chúa Ba ngôi. Trong trái tim của Mẹ đức tin của Giáo hội ẩn mình, Giáo hội thinh lặng của ngày thứ bảy tuần thánh, khi Lời đã thinh lặng, Giáo hội mà công nghiệp duy nhất là đón tiếp Chúa Kitô, Ðấng chịu đóng đinh.

Maria là người đầu tiên theo Chúa Kitô đến cùng, như người đã mời gọi. Bởi vì Thiên Chúa không đến cứu loài người mà không có sự ưng thuận của họ. Người đảm nhận mọi cố gắng của con người. Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người, Thiên Chúa kết hiệp từ bên trong với mỗi người, mang trên chính mình sự thương khó của nhân loại. Và đau khổ của con người, được kết hiệp với sự đau khổ của người, nhận được giá trị cứu độ : « Tôi hoàn tất trong thân xác tôi những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, vì thân mình của người là Giáo hội » (Col 1,24) ; đầu và mình chỉ là một, nhờ tháp nhập sự thương khó của loài người vào sự Thương khó của Chúa Kitô, một lần thay cho tất cả được hoàn tất nơi đồi Canvê vì phần rỗi chúng ta.

Nhưng sự Sầu bi của Maria còn dạy chúng ta điều khác nữa về ý nghĩa của đau khổ. Không chỉ tình yêu được trao hiến của chúng ta trong đau khổ làm cho ơn cứu độ mang lại hoa quả nơi chúng ta và nơi những anh em chúng ta. Nhưng nơi Maria, là người duy nhất, đứng vững nhờ ân sủng dưới chân thập giá, ở ngọn nguồn của ơn Cứu độ, nơi Maria, nhân loại hợp tác với ý định và với sự thực hiện ơn cứu độ của nhân loại. Maria không thêm gì hết vào hồng ân Thiên Chúa nơi Ðức Giêsu : Mẹ đi theo suốt cuộc hành trình của người, và Thiên Chúa ban ơn cho mẹ mang lại cho sự Thương khó của Chúa Kitô, mẹ là Evà mới, bên cạnh Ađam mới. Mẹ không là gì hết, nhưng nhờ tình yêu tự do của Thiên Chúa, mẹ trở nên tất cả. Trong Ðấng cứu độ duy nhất đến chịu đau khổ và yêu mến nơi mẹ, bởi quyền năng của Thánh Thần mà mẹ đón nhận, mẹ trở nên Mẹ sầu bi và hiệp công cứu chuộc, mẹ làm cho chúng ta trở nên những người hiệp công cứu chuộc, bằng việc tháp nhập chúng ta vào thân mình Chúa Kitô.

Huấn quyền Giáo hội đã luôn tỏ ra thận trọng khi dùng tước hiệu hiệp công cứu chuộc (corédeptrice). Và chỉ vào thời Trung cổ mới phát triển việc tôn sùng những đau khổ nhân loại của Ðức Giêsu và sự thương khó của Ðức Maria sầu bi, được trình bày dưới hình thức tượng Pietà hay Ðức Mẹ sầu bi. Nhưng ngay từ thời các giáo phụ, người ta mừng kính « sự trao đổi lạ lùng » trao tặng cho Thiên Chúa thực tại đau khổ và chết chóc của nhân loại để trao hiến cho con người sự vĩnh cửu của tình nghĩa tử thần linh. Ðối với các thánh sử, Nhập thể đã là Cứu độ, Thập giá đã được trồng gần bên máng cỏ, và Maria khai mào Mầu nhiệm Vượt qua : Thiên Chúa trỗi dậy từ lòng đất như người chiến thắng. Chúng ta hãy đón nhận Hồng ân được ban cho chúng ta, và một lần nữa, chúng ta hãy chiêm ngưỡng công trình của Thiên Chúa làm cho chúng ta xứng đáng tham dự vào việc cứu chuộc chúng ta, bằng cách biểu lộ sự thành tựu trọn vẹn. Chúng ta chiêm ngắm nơi Maria thụ tạo được cứu độ cách hoàn hảo là kẻ đón nhận Ðấng cứu thế và mang người đến thế giới ; chúng ta chiêm ngắm Maria là hình ảnh ơn gọi của chúng ta.

Maria, người môn đệ Chúa Kitô và là mẹ Thiên Chúa,  là khuôn mặt của loài thụ tạo đạt thành công mà Thiên Chúa có thể đặt tin tưởng ; mẹ là lý tưởng và là mẹ của Giáo hội, của những người môn đệ mà tình yêu của Ðức Giêsu đã đặt nơi mẹ. Maria, hoa trái của ân sủng Thiên Chúa, đáp lại ngài bằng lòng tin, tiếng vọng của tình yêu Ba ngôi làm cho mẹ sinh những người anh em khác của Ðức Giêsu, « những người tin vào danh Người, không phải được sinh ra bởi máu huyết, bởi ý muốn xác thịt hay ý muốn của nam nhân, nhưng bởi Thiên Chúa » (Ga 1,13). Tất cả mọi sự đến từ Thiên Chúa, và chỉ có Chúa đáng được vinh quang đến muôn đời.

« MỘT NGƯỜI NỮ MẶC ÁO MẶT TRỜI »
M
ARIA VÀ GIÁO HỘI

 « Thánh Thần sẽ đến trên bà »

Cuốn sách thứ hai của Luca sẽ được khai mào, cũng giống như cuốn thứ nhất, bởi sự tuôn tràn hoàn toàn mới của Thánh Thần từ trời. Giữa các môn đệ, tụ họp trong phòng ở trên lầu, trong số cũng có « vài phụ nữ, trong đó có mẹ của Ðức Giêsu », được nêu lên cách rõ rệt. Chính nơi đây mà lời hứa của Ðức Giêsu được hoàn tất và sẽ xuất hiện tạo thành mới đã được loan báo : Thiên Chúa được dân người ca ngợi, dân từ nay qui tụ mọi dân nước và mọi ngôn ngữ trong cùng một lời cầu nguyện huynh đệ. Isaia đã nói tiên tri rằng Thánh Thần sẽ được ban tràn trề vào ngày cứu độ : chính ở đó một trong ba đoạn Thánh Kinh nói đến Thánh Thần bằng động từ đến trên ; Hai chỗ khác là Truyền tin và Ngũ tuần. « Thánh Thần sẽ đến trên bà » sứ thần Gabriel nói với Maria khi bà vừa tuyên bố sự hiến dâng đồng trinh của mình ; và đó là việc thụ thai Con Thiên Chúa. Và chính Ðức Giêsu, vào lúc lên cùng Cha, loan báo cho các môn đệ : « anh em sẽ nhận lấy sức mạnh Thánh Thần sẽ đến trên anh em, và anh em sẽ là chứng nhân cho thầy » (Cv 1,8). Các môn đệ vẫn còn hướng về việc thiết lập nước Israel (Cv 1,6), giờ đây sẽ được viếng thăm bởi lưỡi lửa sẽ làm cho họ mang Tin mừng « đến Giêrusalem, khắp miền Giuđêa và Samaria, cho đến tận cùng trái đất ».

Ngũ tuần như lời Loan báo cho các môn đệ. Sau cùng họ tham dự vào sự sẵn sàng tin tưởng của người trinh nữ nhỏ bé làng Nazarét. Maria hiện diện giữa nhóm, thinh lặng khiến cho Lời hiện diện giữa mọi người. Nhờ Maria, Giáo hội được khai sinh, tạo thành mới trong Thánh Thần. « Những gì được sinh ra nơi mẹ đều đến từ Thánh Thần » (Mt 1,20) : sứ thần biểu lộ cho Giuse là chính Thiên Chúa hành động nơi Maria để làm khai sinh trẻ thơ đầy ân sủng. Cách nói được sinh bởi Thánh Thần hoàn toàn không thấy trong Cựu ước và chỉ thấy hai chỗ trong Tân ước : Mt 1,20 là nơi được áp dụng cho việc thụ thai đồng trinh của Ðức Giêsu ; nơi thứ hai là qua trao đổi với Nicôđêmô trong phúc âm thứ IV, nơi đó hai lần cách nói này được áp dụng cho việc sinh hạ siêu nhiên các tín hữu (Ga 3,5.6.8).

Hồng ân sự sống của Ðức Giêsu, là công trình của Thánh Thần, được khai sinh bởi Maria và được nối dài nơi các môn đệ là những người đến lượt mình cũng được chìm ngập trong mầu nhiệm này. Nơi Maria mầu nhiệm Giáo hội được khai sinh, được thúc đẩy bởi hơi thở của Thiên Chúa vốn không ngừng hoạt động. Từ khi Thánh Thần được ban cho Maria thì Giuse được sứ thần viếng thăm trong giấc ngủ, và gia đình thầy cả Zakharia gặp được lời tiên tri khi con trẻ nhảy mừng trong lòng bà Êlizabét khi nghe tiếng Maria chào : « Mừng vui lên hỡi người son sẻ, người không sinh con » (Is 54,1).

Nhờ quyền năng nhưng không của Thiên Chúa, nơi Maria là kẻ đón nhận lời trong đức tin, Thánh Thần đến cư ngụ nơi con người, bởi vì Ðức Giêsu vừa trao ban Thánh Thần ngay trong lòng thể xác, bị tội lỗi và sự chết giam cầm. Maria, « người con gái của chính Con mình » đã sống Thánh Thần của con và làm cho Ngôi Lời thành hình : Mẹ đã là Giáo hội đón tiếp Thiên Chúa và trao tặng cho Thiên Chúa những người con khác trong Thánh Thần của người Con duy nhất.

Maria xuất hiện như thời vàng son của Giáo hội. Maria là người đầu tiên nhận được từ NGôi Lời nhập thể trọn vẹn con người đầy ân sủng của người khi mẹ cho Ngôi lời Thiên Chúa thể xác. Sự gặp gỡ này là sự thực hiện lý tưởng của hôn lễ huyền nhiệm của nhân loại với Thiên Chúa, của Giáo hội với Chúa Kitô. Ðiều Thiên Chúa tìm kiếm qua hôn lễ này, đó là được đón nhận cách mới mẻ bởi bàn tay con người, như mỗi người được đón nhận cách vĩnh cửu trong Ba ngôi. Chính trong tình yêu vĩnh cửu này mà « Chúa Kitô đã yêu mến Giáo hội và đã hiến mình vì Giáo hội, ngõ hầu thánh hóa Giáo hội và thanh tẩy Giáo hội nhờ nước kèm với lời. Như thế người muốn thấy một Giáo hội rực rỡ, không tì vết, thánh thiện và tinh tuyền » (Ep 5,25-27). Ðó là mầu nhiệm lớn lao của hôn lễ của Con chiên hoà giải nhờ máu của mình nhân loại với Thiên Chúa, đến độ họ được trở nên hiệp nhất với Ngài, con người nhận được sự sinh lại thần linh, và Thiên Chúa đón nhận sự sinh hạ làm người trong tình yêu.

 Maria thực hiện cách hoàn hảo ơn gọi của Giáo hội lý tưởng. Mẹ đón nhận Thiên Chúa cách trọn vẹn và biểu lộ rằng hồng ân của Thiên Chúa không phải là một cách nói. Mầu nhiệm kitô giáo là thực tại và có tính cá vị, từ phía Thiên Chúa và từ phía con người. Nếu như người ta tự đặt mình trong cái tổng quát và trong cái ẩn dụ, người ta ra khỏi Kitô giáo. Thiên Chúa, thực sự muốn trao ban tất cả, không chỉ cho nhân tính của Con mình, nhưng là cho mọi loài thụ tạo, cho công trình được tạo dựng bởi tay ngài và được nối dài trong thân xác của Con Ngài. Nếu công trình này chỉ là thế giới trong toàn thể của nó, Thiên Chúa ngỏ lời với trống không, và tội lỗi làm trở ngại cho sự thực hiện trọn vẹn của tình yêu của Ngài. Nhưng nếu loài thụ tạo được qui tụ trong Giáo hội được tựu trung nơi Maria, thì Thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô không còn là sự qui tụ vô danh nữa, nó mang một tên gọi và một khuôn mặt, tên gọi và khuôn mặt của ân sủng.

Maria là « thánh nữ vũ hoàn ». Giáo hội trước hết là một cộng đoàn, và Chúa Kitô không chỉ là thủ lãnh của Giáo hội, Người còn chính là sự sống của những ai thuộc về Giáo hội, nguyên lý thống nhất của Giáo hội. Giáo hội « hiện hữu » vì Người, Giáo hội là một tập thể không tách rời của những người mà Người yêu thương và làm cho sống động, trong Thánh Thần Thiên Chúa Ba ngôi được thông truyền cho chúng ta từ lòng Cha. Ðó là những con người được nhìn nhận và yêu thương trong chính mình, đây là mầu nhiệm của sự hiệp thông, giống với mầu nhiệm Ba ngôi, được Thánh Thần thúc đẩy. Thế mà Maria được nối liền với nhân tính của Ðức Kitô toàn thể, trong đó mỗi người phải được tháp nhập để được cứu độ. Mẹ là Giáo hội trong toàn thể, cụ thể và cá vị.

Xét như người nữ, mẹ kiến tạo cho Chúa Kitô mô hình của hiền thê, sự bổ túc của nhân tính Evà so với Ađam, cực đón nhận so với Thiên Chúa. Với Mẹ, loài thụ tạo với hai cực nam nữ được hoàn toàn cứu độ và thành tựu trong Chúa Kitô. Cha Von de Balthasar nói « Giáo hội, trong trái tim hoàn hảo của mình, phải là nữ tính. Nữ tính này của Giáo hội phải là bao trùm, trong khi thừa tác vụ của các tông đồ và những người kế vị các tông đồ chỉ là chức năng trong lòng cái bao trùm này. » Như thế, đàng sau những người cử hành cách không hoàn hảo các bí tích, vẫn có Giáo hội khuôn mẫu cùng với sự trong suốt hoàn hảo của mình trước mặt Thiên Chúa. Hoạt động tông đồ và lời cầu nguyện của Giáo hội gặp được sự chắc chắn của mình đạt đến và được nhận lời trong thái độ của Maria ở Cana : « Hãy làm những gì Người nói với anh em ». Ðó là sự phong nhiêu hoàn hảo của mẫu tính đồng trinh, không hề có sự quyến rũ  của các thần tượng ; đó là sự phong nhiêu tinh tuyền của ân sủng được đón nhận trong sự tinh tuyền của đức tin.

« Một dấu chỉ lớn xuất hiện trên trời »

Ở bên trong mầu nhiệm Chúa Kitô, Maria, người được cứu độ đầu tiên, được kết hiệp với Con của mình một cách chặt chẽ, bởi tất cả con người của mình, thân xác và tâm hồn. Mẹ được kết hiệp với con trong sự Nhập thể của con và trong thập giá, mẹ được kết hiệp với con trong sự Phục sinh của người. Cùng với mẹ, đó là tất cả nhân tính thấm nhập trong tiếng thưa vâng của Chúa Kitô và được lôi cuốn vào trong đời vĩnh cửu của những người được phục sinh.

Thực vậy, chúng ta không phải là những tế bào được đặt kề bên nhau, nhưng tất cả mỗi người đều là duy nhất và không thể thay thế được, chúng ta là những tế bào của một thân mình lớn, tất cả cùng liên đới với nhau. Tâm hồn chúng ta chứng tỏ tính chất riêng biệt không thể giảm trừ của mình, của mầu nhiệm chúng ta mà chỉ có Thiên Chúa nhận biết. Thân mình chúng ta là dấu chỉ hữu hình của những liên hệ chúng ta với thế giới và với người khác, với thời gian và với sự chết. Tâm hồn bất tử của chúng ta được nối liền với Thiên Chúa bằng một tình yêu liên vị và không hối tiếc. Sự phục sinh chung mọi thân xác vào cuối thời gian có nghĩa là chúng ta liên đới với nhau, trên thiên đàng cũng như dưới thế, trong toàn thể nhân loại, chúng ta cần tới những anh chị em mình để phục sinh.

Thế mà Maria, ngay từ giây phút đầu tiên hiện hữu, đã là sự thực hiện đầu tiên và hoàn hảo của Thân mình là Giáo hội, được nối liền với Chúa Kitô là đầu của mình. Mẹ là sự nối dài của nhân tính Chúa Kitô, của Thân mình mầu nhiệm của Người. Maria cũng chứng tỏ cho chúng ta làm sao Thân mình này có thể được kết hiệp với Chúa Kitô bởi đức tin suốt cuộc đời hiện hữu trần thế của mình. Mẹ chúng tỏ cho chúng ta làm sao Chúa Kitô hiệp nhất với mẹ trên trời trong vinh quang. Con người của mẹ tượng trưng thực sự toàn thể nhân loại. Mẹ chỉ làm một với sứ vụ của mình, là thuộc về Chúa Kitô, thân xác và linh hồn.

Maria đã được Thánh Thần nâng đỡ để làm mẹ Chúa Giêsu, mẹ Thiên Chúa. Mẹ được Thánh Thần ở cùng trong toàn thể con người của mẹ. Bởi vì Thánh Thần không chỉ là tác nhân chỉ hoạt động trong khi nhập thể. Thánh Thần tác động vì công trình Cứu độ và cho công trình cứu độ, trước cũng như sau Ðức Giêsu : khởi đi từ Chúa Kitô, ân sủng toả chiếu thành những vòng tròn đồng tâm, như người ta vẫn nói. Vòng tròn gần nhất với Người chính là Ðức Maria mẹ người, vô nhiễm trước khi sinh, được phục sinh với người sau cái chết vinh hiển. Vô nhiễm nguyên tội là sự chuẩn bị của mẫu tính Maria, Thăng Thiên chính là kết quả của mẫu tính này.

Maria được dùng trong suốt cuộc đời của mình để không ngừng sẵn sàng cho hoạt động của Thánh Thần. Mẹ là gương mẫu của cuộc lữ hành trần thế của chúng ta, trong khi mẹ tự để mình được biến đổi thành hình ảnh luôn luôn vinh quang của Chúa, « vốn thích hợp với hoạt động của Thiên Chúa là Thánh Thần » (2Co 3,18). Mẹ vì thế chỉ cho chúng ta rằng, trên trần gian, chúng ta không có mục đích đầu tiên là học tự giải thoát mình khỏi tội, nhưng là để mình được biến đổi nhờ Thánh Thần, cả thân xác và tâm hồn, và khai mở cho Thiên Chúa một con đường mới trong trái tim con người. Sự thăng thiên của Ðức Maria là sự chiến thắng của mẫu tính đồng trinh, nơi mà toàn thể con người của mẹ, thể xác và tâm hồn, được trao hiến. Sự trung tín đầy sáng tạo đã chiến thắng sự mòn mõi của thời gian ; mẹ đã biết tiến bước, xuyên qua những bất ngờ của cuộc đời, trong sự vâng phục Thánh Thần đã chiếm hữu trọn vẹn con người của mẹ và càng lúc càng khai mở mẹ cho ơn gọi của mình.

« Ðàn ông ở một mình không tốt » (St 2,18). Lời này, được tuyên bố ở vườn địa đàng sách Sáng thế ký vẫn còn trung thực trong câu chuyện Phục sinh. Maria, đứng gần bên Con mình, bảo đảm cho nhân loại được hiệp thông, trong lòng thần tính, nơi mà mẹ nối dài sự chia sẻ này trong Thánh Thần được khai sinh khi mang thai Ðức Giêsu. Mẹ sống hôn ước Con chiên là hôn ước mà toàn thể Giáo hội sẽ được kết hiệp cách trọn vẹn vào thời gian cuối cùng. Mẹ đã là Thành Thánh, « người hôn thê được trang điểm cho hôn phu của mình » (Kh 21,2).

Nhưng « nơi ở này của Thiên Chúa với loài người » chắc hẳn không xa lạ với những cuộc chiến đấu của nhân tính đang lữ hành của chúng ta. Maria, hòm bia giao ước trên những nẻo đường của xứ Giuđêa, nơi ở bảo đảm trên trời cho dấu chỉ Ðấng Emmanuel (Kh 11,19-12,1). Ðời vĩnh cửu không phải là sự vắng mặt, nhưng là hiện diện khác, nội tâm hơn và sâu xa hơn, thực hơn. Chiến thắng đã được bảo đảm và những người ra đi tiến về phía trước lôi cuốn chúng ta theo bước chân họ, bằng cách giúp chúng ta giật thoát chúng ta khỏi tội lỗi đe doạ chúng ta. Như thế, người Ðàn bà như sách Khải huyền mô tả mặc áo mặt trời của Ðấng Phục sinh, nữ hoàng của mọi loài thụ tạo, vẫn tiếp tục trong đau khổ công việc sinh hạ. Bà là Sion sinh con cái của mình (Is 66,7-8), nhưng không thể không trải qua đồi Canvê. Bởi vì đây là việc thu hồi, như thánh Phaolô và Irênê nói tới, xuyên qua tất cả những hậu quả của tội lỗi, và đối với người đàn bà sống lại tất cả những đau khổ của Evà đầu tiên, ngõ hầu cho họ một ý nghĩa và dẫn đưa họ tới sự phong phú chân thực của họ, sự sinh hạ Người Con Thiên Chúa. Người Con này, Ðấng đã phát sinh từ trái đất trong sự sinh hạ nghèo nàn và kỳ diệu ở đêm Giáng sinh ở Bêlem, đã phải đảm nhận tất cả những thảm sát của những người vô tội ngõ hầu sau cùng về với Cha và chuẩn bị chỗ cho các bạn hữu của mình.

Người nữ Sion tượng trưng cho Dân Thiên Chúa là dân mà nơi thiếu nữ Maria làng Nazarét, đã sinh hạ vào đời người Con Thiên Chúa và chiến thắng sự đe doạ của con Rắn đang muốn rình để vồ lấy con trẻ, Con Rồng chỉ có thể gây nên chiến thắng của sự Sống xuyên qua ngay chính cái chết đang tìm cách nuốt trững nó. Nhưng những người con khác của người Ðàn bà phải được ghép vào chính đà vươn này của sự sống, phải hoàn toàn tin tưởng vào quyền năng của tình yêu Thiên Chúa nếu họ muốn tham dự vào chiến thắng của người. Thực vậy, Maria-Giáo hội ở nơi sa mạc, ngoài tầm Con rắn, nhưng cuộc chiến không kết thúc : người Ðàn bà phải được tiếp sức bởi những người khác nữa, những người mà trong cơn thử thách, tự nuôi dưỡng mình cùng với Bà bằng Bánh sự sống.

Dấu chỉ vĩ đại trên trời là dấu chỉ chiến thắng : chính người đàn bà được mặc lấy dấu chỉ này, được trang điểm bằng mười hai ngôi sao, bà chứng nhận sự chiến thắng của Giáo hội qui tụ tất cả loài thụ tạo. Cái nhìn tiên tri này được chiêm ngắm bởi Maria, Mẹ Ðấng cứu thế, người đã có thể đón nhận trọn vẹn đời sống của chính Thiên Chúa. Từ nay, mọi người, nơi mẹ, đã có thể nhận ra khung trời của Thiên Chúa.

MARIA - MẸ GIÁO HỘI

 Mẫu tính thiêng liêng

Maria kinh nghiệm trong thân xác của mình những chiến đấu của những người con của mình, bị lưỡi gươm đâm thâu qua dưới chân thập giá, bà là người Mẹ-Giáo hội nhìn thấy tư tưởng của nhiều tâm hồn được tỏ lộ (Lc 2,35); trong khi mà những người này đón nhận cách đồng trinh Thánh Thần trao ban trọn vẹn, thì những người khác lại từ chối thập giá gây cớ vấp phạm, tự đóng kín mình dựa trên những bảo đảm của Lề Luật hay tựa trên những giáo thuyết thế gian. Maria, trinh nữ và là mẹ, bảo đảm sự trung tín và phong phú của gia đình các môn đệ.

Maria, “mẹ Ðức Giêsu”, cũng là mẹ của người môn đệ mà Ðức Giêsu yêu mến. Bởi vì Ðức Giêsu tự đồng hóa thực sự với những anh em của mình. “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ”, Ðấng Phục sinh tuyên bố với Saulô đang đi tới Damas để cầm tù những kitô hữu. Giêsu không chỉ là một người đã sống ba mươi năm ở Palestina. Người là Chúa Kitô (Lc 2,11; Cv 2,36), Ðấng hiện giờ chờ đợi trong Vinh quang tất cả mọi sự được đặt dưới chân người (1Co 15,25), người là Trưởng Tử của mọi loài thụ tạo và Trưởng tử giữa những kẻ chết, người có trước mọi sự và mọi sự tồn tại trong Người. Người cũng là đầu của thân mình, tức là Giáo hội (Col 1). “Anh em là thân mình Chúa Kitô, mỗi người là một phần chi thể” (1Co 12,27). Thân mình Chúa Kitô trải dài tới các kitô hữu và tới Giáo hội, và nhờ Giáo hội, người muốn vươn tới toàn thể vũ trụ.

Mầu nhiệm Chúa Kitô, được thánh Phaolo rao giảng cho các tín hữu ở Êphêsô, đó là “những dân ngoại được đón nhận vào cùng một di sản (như những người do thái), những thành phần của cùng một Thân Thể”. Người tâng đồ đảm nhận việc “rao giảng cho dân ngoại sự phong phú khôn lường của Chúa Kitô”. Thiên Chúa “đã đặt mọi sự dưới chân Người, và đã đặt Người làm đầu Giáo hội là Thân thể người” (Ep 1). Tác vụ của tông đồ là tạo ra sự gắn bó với mầu nhiệm ẩn dấu này nơi Thiên Chúa từ đời đời, và bây giờ được mạc khải trong Thánh Thần: vũ trụ có ơn gọi, để là thực sự, là thân thể của Chúa Kitô, được tháp nhập vào Chúa Kitô, và nhìn thấy sự biểu lộ của những người con Thiên Chúa. Trong khi chờ đợi “vũ trụ rên siết và đau khổ nỗi đau sinh hạ” (Rm 8).

Loài thụ tạo đích thực có thể nhận ra mình trong Người đàn bà của sách Khải huyền, đồng thời loài thụ tạo đón nhận từ nơi Ba Ðấng cứu thế giải phóng mình. Bởi vì ơn cứu độ không phải là một giáo thuyết hay là một luân lý, nó là một con người: chính Chúa Kitô. Và việc loan báo Tin mừng, sứ mạng của Giáo hội, không cốt chỉ là loan truyền giáo thuyết về Chúa Giêsu nhưng là thông truyền đời sống của người, làm trải rộng khả năng của thân thể người. Công trình của Ðức Giêsu không phải ở bên ngoài con người ngài, nhưng công trình này là thực tại của một trẻ thơ lớn lên. Như thế, mẫu tính của Maria, áp dụng vào toàn thể con người của Ðức Giêsu, không thể ở bên ngoài công trình của người. “Khi trở nên Mẹ Chúa Kitô, đầu của thân mình mầu nhiệm, mẹ trở nên mẹ các chi thể của người”.

Chúng ta hãy nhìn vai trò này của Maria ở Bêlem, ở đồi Canvê, và trong đời sống những người đã lãnh phép Rửa. Trước hết khi nhập thể, trong chừng mực mà trong đức tin Maria đã trao tặng cho Ngôi Lời tất cả nhân tính, làm cho Ngôi Lời trở thành người, mẫu tính của mẹ cũng trải rộng ra như chính nhân tính được đảm nhận, mẹ đã khải mở cho mọi người và ngay từ giây phút đầu tiên. Ðức Kitô đạt tới tầm vóc hoàn hảo, tới tuổi hoàn hảo, Ðức Kitô kết hợp cá vị mọi người ở mọi thời, Chúa Kitô toàn thể, đó đã là Ðức Giêsu ở Bêlem. Nhân tính người nhận được từ Maria đã thực sự là Thân Thể Mầu nhiệm của người.

Trên thập giá, Ðức Giêsu làm cho mẹ khám phá ý nghĩa của đau khổ của mẹ, và càng lúc Thánh Thần của lễ Hiện xuống sẽ làm cho mẹ hiểu ý nghĩa này hơn. Và sau cùng trong Giáo hội, mỗi người được mời gọi tháp nhập vào hiến tế của Chúa Kitô, tham dự vào cuộc trao đổi tình yêu nhân thần. Ðối với chúng ta, Maria là nhân chứng của thực tại nhập thể và cứu độ, của thực tại hồng ân Thiên Chúa. Thiên Chúa vừa mới giáng sinh như một trẻ thơ loài người để nhờ đó, chúng ta được tái sinh hồn xác trong đời sống thần linh. Maria ở điểm nối của hai vận hành tình yêu.

Maria không chỉ là đối tượng sự chú ý đặc biệt của Thiên Chúa làm cho mẹ “phong phú cách mầu nhiệm để làm cho Ngôi Lời đảm nhiệm thân xác được cưu mang từ lòng mẹ. Chúng ta sẽ hiểu rằng Trinh nữ là Mẹ Chúa Kitô theo nhân tính chứ không phải là Mẹ Giáo hội của các tông đồ. Không có giải pháp tiếp nối giữa mẫu tính thể lý đối với Chúa Kitô và mẫu tính mầu nhiệm đối với Giáo hội. Nhưng trong trường hợp đó, không thực sự có Nhập thể, Maria không thể thực sự là mẹ của Ðức Giêsu, người không thực sự được “sinh ra bởi một người nữ”.

Như thế, Maria như thể là tâm phúc của Ba ngôi, liên đới với công trình của Thánh Thần ngự trên Chúa Kitô nơi phép Rửa và trên Giáo hội ở lễ Hiện xuống. Nhờ ân sủng thần linh của Thánh Thần, Trinh nữ là Mẹ của Chúa Kitô đã đến trong lòng mẹ và được tiếp nối trong Thân thể mầu nhiệm của Người: đó là đức ái đã làm cho mẹ hợp tác với “việc sinh hạ trong Giáo hội các tín hữu là những phần tử của vị thủ lãnh này”.

Sứ mạng này không đặt Ðức Maria ở trên Giáo hội, như thể là có hai mẫu tính, một mẫu tính của Giáo hội đối với các tín hữu và một mẫu tính khác của Maria đối với Giáo hội, như thể là Ðức Maria trinh nữ như là Bà ngoại của chúng ta! Trong Thánh Thần, Giáo hội các tông đồ và Trinh nữ Maria đều có cùng một nguồn mẫu tính, nhưng trinh Nữ Maria thực hiện cách cá nhân đối với các tín hữu và toàn Giáo hội, trong khi đó Giáo hội của các tông đồ và của những tín hữu chỉ thực hành mẫu tính này đối với những thành phần cách riêng lẽ. Maria ở trong Giáo hội như người mẹ ở trong gia đình.

Maria là một thụ tạo chỉ có lý do hiện hữu trong tương quan với Chúa Kitô. Nhưng Mẹ trở nên, nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Kitô, phần tử tuyệt hảo và duy nhất tuyệt đối (L.G.53). Vai trò của mẹ là thành phần và là mẹ. Mẹ là mẹ các thành viên mà Phaolô gọi là những người yếu đuối nhưng không kém cần thiết (1Co 12,22). Mẹ không có quyền hành nào do Chúa ban trực tiếp cho mẹ. Người ta không thể qui gán điều gì cho mẹ cách riêng, người ta không thể ngừng lại nơi chính mẹ. Mẹ là người nghèo của Giavê, người con gái khiêm nhường của Israel, hoàn toàn thinh lặng để hoàn toàn hiến mình cho Thiên Chúa và cho người khác. Chính vào lúc đó mà mẹ là một thành phần đơn giản của Chúa Kitô, sự trong suốt tinh tuyền của Thánh Thần, không giữ lại gì cho chính mình. Chính sự nghèo khó vô tận này khiến mẹ được nâng lên tới sự vĩ đại vô tận của đời sống Ba ngôi. Mẹ không có gì nơi chính mình mà không phải là của Chúa Kitô và vì Chúa Kitô. Mẹ sẽ hoàn toàn ở trong Giáo hội, bên cạnh Thân mình mà Ðầu là Chúa Kitô.

Maria ở trong tim của Giáo hội.

Sứ vụ của Maria vì thế không chỉ là gương mẫu của Giáo hội, nhưng thực thi trong lòng Giáo hội sự hoạt động thực sự của người mẹ. Là Mẹ Thiên Chúa, mẹ hoàn toàn ở dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần đến với mẹ để nắn đúc và tạo nên  Giáo hội như Thánh Thần vốn đã tạo nên trong lòng mẹ thân xác Ðức Giêsu, nhờ sự tự do của đức tin và sự vâng phục của mẹ. Ðối với Giáo hội, mẹ sẽ là nơi suối nguồn. Vì là thành phần của trái đất đã sinh ra Chúa Kitô cách hoàn hảo, cách trọn vẹn, người kitô hữu có thể đến lượt mình trỏ nên người anh, chị em, mẹ của Thiên Chúa.

Chính xuyên qua sự tinh khiết của lòng tin và vâng phục của Maria mà nhân tính của Chúa Kitô đến với chúng ta, trong người chúng ta phải được tháp nhập để đạt được sự hiệp thông đời sống Thiên Chúa, để đạt được mọi ân sủng. Do đó Maria hoàn toàn liên hệ với hồng ân được ban cho chúng ta là kết hiệp với đời sống ba ngôi trong Giáo hội; như thế, chúng ta sẽ được điều mà Ðức Maria có được do bởi sự kết hiệp hoàn hảo với Con của mình. Trong cung lòng của Maria, trong đức tin của trái tim mình, đời sống Thiên Chúa được thông truyền cho chúng ta.

Maria, “dưới chân thánh giá” (Ga 19,25), là chính gương mẫu của Giáo hội sống động phát sinh từ máu cứu độ. Sự khai sinh mới được thực hiện nơi mẹ; hình ảnh của Giáo hội, mẹ là mẹ Giáo hội, nơi mẹ mầu nhiệm Hiện xuống được chuẩn bị. Khi đó “diễn ra một hoạt động tương tự với Truyền tin: Thánh Thần đã biểu lộ cách bí ấn để tạo nên thân thể vật lý của Ðấng cứu độ biểu lộ cách mạnh mẽ để tạo nên thân mình mầu nhiệm của người. Không còn là để khai sinh Chúa Kitô, nhưng là để khai sinh Giáo hội. Maria hiện diện trong nhà tiệc họp với các môn đệ dưới bóng Thánh Thần, như xưa kia khi Truyền tin. Và những gì diễn ra sau đó, không còn phải là việc lên đường của Ðức Maria hướng về nhà Êlizabét (Lc 1,39), nhưng là việc ra đi của các môn đệ hướng về các dân tộc trên thế giới.

Maria đồng hành với các môn đệ ở chiều sâu, bởi sự cầu nguyện, và Maria tiếp tục ở bên chúng ta. “Sự chuyển cầu của Maria là khởi đầu của việc Thánh Thần hiện đến”. Mẹ biết rằng đối với Chúa thì không có gì là không thể được, và thay vì muốn ảnh hưởng lên người, chính trong mẹ mà lời cầu nguyện của Giáo hội được gần với ý muốn của Thiên Chúa nhất, vâng phục với tiếng gọi của Thánh Thần nhất. Ðiều riêng biệt của Maria, chính là vai trò của Giáo hội: khai mở chúng ta cho ân sủng đến với chúng ta nhờ bởi và trong nhân tính của Chúa Kitô. Ðó chính là vai trò làm mẹ của người: làm cho chúng ta trở nên những người con giống với người con mà mẹ đã sinh ra trên trần gian. Cách thế hành động của mẹ là cầu nguyện, mẹ chỉ có thể cầu nguyện, nhưng mẹ cầu nguyện cách hoàn hảo.

Cuộc đối thoại của Maria với Ðức Giêsu ở tiệc cưới Cana nhấn mạnh đức tin của người mẹ, ngay cả như lời đáp của Con xem ra như lời từ chối, mẹ vẫn nói với gia nhân: “hãy làm những gì người nói với các người” (Ga 2,5). Ðó chính là sự hiểu biểu sâu xa giữa Ðức Giêsu và mẹ người. Làm sao để thâm nhập vào mầu nhiệm kết hiệp thiêng liêng thân tình của các ngài?” Trong sự kiện này phác hoạ nên “mẫu tính mới mẻ theo tinh thần chứ không theo xác thịt, đó là sự lo lắng của Maria đối với loài người, nhằm đưa dẫn họ vào trong quyền năng cứu độ của Chúa Kitô. Như thế có một sự trung gian chuyển cầu: Maria đứng giữa Chúa Con và loài người trong những gì mà con người thiếu thốn, đau khổ, nghèo nàn. Mẹ đứng giữa, mẹ còn đứng nơi của người mẹ, hoàn toàn ý thức việc giới thiệu cho Con những nhu cầu của con người. Ðàng khác, Mẹ còn hiện diện trước con người như là người xướng ngôn của ý muốn Chúa Con. Ðức Kitô vốn luôn là vị trung gian duy nhất, nhưng vai trò của Maria, của người mẹ đối với loài người không hề làm giảm thiểu sự trung gian của Chúa Kitô mà còn biểu lộ hơn nữa.

Sự tinh tuyền của đức tin của Maria được chia sẻ cho chúng ta như là quà tặng tuyệt vời của Thánh Thần giúp chúng ta đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa và giới thiệu Người cho anh em: chính trong Người, trong nhân tính của người nơi có trọn vẹn sung mãn Ân sủng mà chúng ta được tái sinh và làm cho chúng ta cũng trở nên những người sáng tạo, bởi vì chúng ta thông truyền những gì chúng ta đã nhận. Maria để cho ân sủng mà mẹ được tràn đày đi qua mẹ, và chúng ta cộng tác vào ơn cứu độ tùy theo những hồng ân đã được ủy thác cho chúng ta. Như thế, chúng ta biểu lộ sự toàn năng của sự Trung gian duy nhất của Chúa Kitô không những cứu độ chúng ta mà còn làm cho chúng ta được tham dự vào công trình cứu độ. Công đồng Vatican viết: “hoạt động của Maria bắt nguồn tứ sự dồi dào phong phú công nghiệp của Chúa Kitô; hoạt động của mẹ dựa vào sự trung gian của người mà mẹ tùy thuộc trong tất cả và cũng từ đó mà mẹ rút ra tất cả mọi nguồn lực của mình; sự kết hiệp trực tiếp của người tín hữu với Chúa Kitô không hề bị cản trở, nhưng trái lại còn đưọc giúp đỡ” (60-62). Như thế, những người anh em khám phá một cách tinh tuyền hơn Hồng ân Thiên Chúa chiếu sáng rực rỡ hơn xuyên qua sự yếu đuối của loài thụ tạo được cứu độ.

Sự trung gian của Ðức Maria không thêm gì vào sự trung gian của Vị Trung gian duy nhất, Giữa Thiên Chúa và chúng ta không có những trung gian theo bậc, nhưng là một sự kết hiệp trọn vẹn toàn thể Thiên Chúa và con người trong Ðức Giêsu. Chính trong sự kết hiệp này mà chúng ta phải đi vào, chính trong sự kết hiệp này mà chúng ta gặp được sự hiện diện tác động của Maria và của các thánh. Chúng ta không thể thêm ý nghĩa khác vào công thức nhờ Maria đến với Giêsu.

Maria, khuôn mặt mẫu tính của Giáo hội là nơi sâu xa, sống động mà Ðức Giêsu chia sẻ với chúng ta, và là nơi mà chúng ta gặp người. Mẹ làm cho chúng ta có được đời sống ân sủng mà Chúa Kitô thông ban. Ðối với mỗi người trong chúng ta, mẹ có những tâm tình mẫu tử mà thánh Phaolô cảm nghiệm trong việc sinh hạ những tín hữu, làm cho họ nhận biết Chúa Kitô (Gl 4,19; 1Co 4,14-15).  Hoạt động của Ðức Maria đối với chúng ta là sự tiếp nối hoạt động của người mẹ đối với Ngôi Lời nhập thể. Hoạt động mẫu tính của Maria tác động đối với toàn thể Giáo hội mà mẹ chuẩn bị cho để đón nhận ân sủng Chúa Kitô.

MẸ CÁC NGƯỜI SỐNG

Ơn gọi của người nữ.

Maria, sau cái chết của Chúa Kitô, đã tự xoá mình trong lòng Giáo hội. Giáo hội, được đại diện nơi người môn đệ, càng được trao phó cho Maria như người mẹ của mình, thì mẹ cũng càng được trao phó cho Giáo hội như là kho tàng quí giá nhất của mình, như trái tim của mình, như phần chính yếu của mình. Maria tiếp tục đại diện Giáo hội, đón nhận hồng ân Thiên Chúa trong các bí tích. Lời cầu nguyện của Maria cho phép Giáo hội đóng góp vào việc khai mở các tâm hồn. Như thế, Maria nâng đỡ tác vụ của các tông đồ, bởi vì họ luôn sẽ gặp thấy mẹ gần với suối nguồn, nơi đó chắc chắn mẹ không bị Chúa Giêsu từ khước, trái lại, ở Cana, Mẹ được kết hiệp với “giờ” mà vì đó Chúa Kitô đến. Chính là giờ và mầu nhiệm của thập giá, đó cũng là giờ của người nữ, giờ của Giáo hội.

Maria tiếp tục mang Tin mừng trong trái tim của mình cũng như mẹ đã mang Ðức Giêsu trong lòng mình. Chính vì thế mà Công đồng mô tả những nhà truyền giáo như là gieo rắc “lời cầu nguyện của họ với mọi người kitô hữu ngõ hầu, nhờ sự chuyển cầu của Trinh nữ Maria, Nữ vương các tông đồ, các dân nước được dẫn đưa tới chỗ nhận biết chân lý (1Tm 2,4), và vinh quang Thiên Chúa chiếu sáng trên khuôn mặt của Chúa Kitô bắt đầu chiếu sáng cho mọi người nhờ Thánh Thần” (2Co 4,6) (Ad gentes 42). Ðây không phải là những công thức đạo đức nhưng là thực tại. Cha R. Laurentin viết: “Maria không có phần trong phẩm trật các tác vụ, nhưng lời cầu nguyện của mẹ đã chuẩn bị cho việc sinh hạ Giáo hội, lời cầu nguyện của mẹ vẫn là chóp đỉnh của lời cầu nguyện Giáo hội. Và theo danh hiệu này mẹ dường như đã là góp phần lớn trong hiệu quả kỳ diệu của việc loan truyền Tin mừng ban đầu”. [6]

Nơi Maria, người đồng hành với Giáo hội ban đầu và đi trước Giáo hội trên trời, là bản tóm của thân phận Giáo hội trọn vẹn. Mẹ là người mà luôn tiến tới hơn nữa trong cuộc lữ hành đức tin, tham dự cách trọn vẹn vào hoa trái của phục sinh. Mẹ là người mà nơi mẹ tất cả những sứ vụ của Giáo hội, tất cả mọi vai trò và tất cả mọi đặc sủng gặp được nơi suối nguồn của mình, mẫu tính thần linh: thực vậy, những hồng ân và những việc phục vụ được biểu lộ trong Giáo hội không có mục đích nào khác ngoài việc sinh Chúa Kitô trong các tâm hồn. Chính vì thế Maria không nhận chức vụ nào cách đặc biệt, dù là chức linh mục. Mẹ không thể đồng hóa với sứ vụ nào cách riêng biệt, bởi vì chính toàn sứ vụ của Giáo hội là sứ vụ của mẹ. Mẹ có chức linh mục của Giáo hội chứ không phải của các thừa tác viên. Nhưng những người này sẽ làm đúng khi tìm kiếm nơi mẹ là người “đã tận hiến hoàn toàn cho mầu nhiệm cứu chuộc nhân loại” là “sự nâng đỡ cho tác vụ của họ” cũng hướng về mục đích này (P.O, 18).

Ðể cho trong Giáo hội luôn được biểu lộ mầu nhiệm cứu độ, việc tháp nhập vào nhân tính của Con Thiên Chúa, mầu nhiệm mà trong đó Chúa Giêsu  là hình ảnh của Ðầu và Maria là Thân thể mầu nhiệm - đến độ mà mẹ không dự phần với những người chu toàn trên trần gian tác vụ làm đầu của Chúa Kitô -, vì thế nên người ta sẽ đề nghị cho người nữ vai trò đồng hành của người mẹ trong chiều sâu và đề nghị cho người nam trọng trách hướng dẫn đoàn chiên. Nếu cả người nam lẫn người nữ thành công trong việc giải thoát khỏi ràng buộc của tội lỗi, họ sẽ không thể xem vai trò của họ như một dịp để chế ngự, nhưng họ tự để mình được nắn đúc theo hình ảnh của người Tôi tớ Thiên Chúa và của người nữ tỳ của Thiên Chúa.

Nhân loại được mong muốn như diễn tả mầu nhiệm hiệp thông, và tội lỗi hẳn là sự rạn nứt của sự hiệp thông này. Người nữ, chứng nhân của tương quan nguyên thủy, làm chứng vết thương đầu tiên; mẹ còn làm chứng cho khởi điểm được thành tựu: đối với Thiên Chúa, không có gì bị đánh mất. Maria sẽ ở ngọn nguồn của một nhân loại sẵn sàng, một nhân loại nữ tính. Mẫu tính và sự đồng trinh của mẹ, đồng hiện hữu nơi mẹ bởi ân sủng của Thánh Thần, đồng tạo nên hai chiều kích của cùng một ơn gọi hôn phối: Maria, đại diện cho nhân loại đứng trước Chúa Kitô, thiết yếu là hiền thê âu yếm của thánh ý Cha; mọi người nam, mọi người nữ, có thể kín múc nơi mẹ nguồn suối của cùng một ơn gọi nền tảng, việc đón tiếp nữ tính của một mầm giống, mầm sự sống vĩnh cửu, ngay chính tình yêu của Thiên Chúa tự hiến.

Người nữ-đồng trinh biểu lộ thực tại của hồng ân người chồng của Ðức Kitô Ðấng cứu độ con người và Hôn phu của các tâm hồn. Mọi người được thánh hiến được mời gọi đi vào trong tương quan này tham dự vào sự phong phú của Thiên Chúa, của Nước Trời. Qua hôn nhân, người chồng và vợ cho thấy hình ảnh của tình yêu Thiên Chúa, qua việc kết hợp của họ là hình ảnh của việc kết hợp giữa Chúa Kitô và Giáo hội (Ep 5,25). Trong mầu nhiệm này, nữ tính là biểu tượng của toàn nhân loại, được mời gọi hiện hữu bằng cách đón nhận Hồng ân Thiên Chúa. Người nam học từ người nữ ý nghĩa của chính phụ tính của mình, không phát xuất từ quyền lực cá nhân mình nhưng là từ phép mầu của tình yêu: lần hồi ông phải khám phá điều này như một mầu nhiệm trao phó cho mình.

Cuối cùng Thánh Thể, đặt chúng ta trong lòng chính mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô, vén tỏ trọn vẹn cho chúng ta tình yêu hôn phu của Thiên Chúa, mầu nhiệm vĩ đại của tình yêu điên dại của Thiên Chúa vì con người (Ep 2,4), khi mà Chúa Kitô tự hiến không dè giữ gì trên thập giá. Việc cử hành Thánh Thể thực hiện một cách bí tích hành vi cứu độ của Chúa Kitô-hôn phu đối với Giáo hội hôn thể. Người linh mục hành động nhân danh Chúa Kitô làm đầu (in persona Christi capitis), giữ vị trí và vai trò của Chúa Kitô, xét như là người nam đối với Giáo hội-hôn thê. Nhưng hẳn nhiên, không nên quên rằng chính người là thành phần của đoàn dân này nơi đó mọi người nam và nữ đều cùng được mời gọi làm nên một thân thể để đáp lại như một lời đáp cho tình yêu điên dại của Thiên Chúa. Linh mục trước hết là người đã lãnh phép rửa, là người phải học sự gắn bó nữ tính của tinh thần và trái tim.

Vì thế Giáo hội có một cấu trúc phẩm trật, nam, hoàn toàn hướng về sự thánh thiện của nữ, của hôn thê, cùa toàn thể chi thể của Chúa Kitô. Ðặc tính tông truyền và Phêrô của Giáo hội là hướng về sự thánh thiện của Maria. Và rất thường khi, như vào buổi sáng phục sinh nơi mồ trống, chính người nữ đã đánh thức các tông đồ.

Người nữ là nơi cá vị, nơi riêng biệt mà Tình yêu đâm rễ. Người nữ là người đón nhận tình yêu để đáp lại bằng yêu thương. Người nữ tỏ lộ cho mọi người con người và ơn gọi của mình: sứ vụ của mình là sứ vụ tiên tri. Vì thế, Maria đối với mỗi người trong chúng ta và đối với Giáo hội, là sự phù hợp của Thánh Thần. Nơi Maria, con người được trao phó cho người nữ, vì tình yêu.

Ở đây, chính Thiên Chúa vén tỏ tình yêu bao la của ngài, mầu nhiệm của trái tim ngài. Thiên Chúa yêu thương chúng ta với lòng của người mẹ, Ngài yêu thương chúng ta không phải từ trên và từ xa, nhưng từ bên trong chúng ta, và người dạy chúng ta hiện hữu bằng cách để chúng ta được tạo dựng từ bên trong, bằng tình yêu. Thiên Chúa tự hiến qua người nữ, Thiên Chúa tự hiến qua Maria. Mẹ không phải là trung gian nhưng là người làm chứng thân mật của loài thụ tạo với Thiên Chúa của mình? Tương quan nam-nữ phải được suy nghĩ lại như là hình ảnh của sự kết hiệp hôn ước này, vượt quá mọi thực hiện trần thế và lôi cuốn chúng ta tới Ba ngôi.

Chính vì thế ân sủng và việc chọn lựa đời độc thân từ nay bó buộc như là bổ túc cho thực tại của hôn nhân để biểu lộ sức vươn lên thần linh được đề nghị cho loài người. Trong đời độc thân, không phải là vắng bóng hôn ước; tình yêu làm cho mỗi người kết hiệp với mọi người khác, không phải một cách miễn cưỡng, nhưng là bởi tin tưởng được Thiên Chúa là Ðấng tự hiến và nhận lấy tất cả ưng thuận. Trong đời hôn nhân, chồng và vợ là những trung gian của cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa và với anh em? Trong đời độc thân của tình yêu, Trái tim Thiên Chúa tự trở nên nơi chứa đựng và nguồn của hiến dâng. Sự hiến dâng của chúng ta nghèo nàn, nhưng bởi sự kết hiệp thiêng liêng của chúng ta với đức tin của Maria, chúng ta có thể đi vào trong sự trong suốt hoàn toàn nữ tính và sẵn sang của Luồng gió của Ðấng toàn năng. Khi đó, mọi ơn gọi cá nhân được siêu vượt và được đặt trên sư kết hiệp trong sự kết hiệp sống động này giữa Thiên Chúa và người nữ: mỗi người nam, nữ, để cho Chúa Kitô được sinh ra và lớn lên trong đời sống mình tới đời đời. Những người lập gia đình ngăn cản những người độc thân mở tưởng mầu nhiệm gặp gỡ; nhưng những người này mở rộng con đường của nguồn suối đích thực và của chân trời của mình: việc hiến dâng trọn vẹn cho Chúa Kitô và nhờ Chúa Kitô cho Chúa Cha, làm cho chúng ta tham dự vào sự trong suốt và vào lửa của Tình yêu không giới hạn của người.

Sự khai sinh của những người con Thiên Chúa.

Thánh Phaolô đã thốt lên : “mầu nhiệm này thực là lớn lao” (Ep 5,32). Sự kết hiệp giữa người nam và người nữ làm sống động thực sự hồng ân toàn vẹn và hổ tương giữa Chúa Kitô và Giáo hội. Thân xác người nam và thân xác người nữ được thấm nhập bởi quyền năng của Thánh Thần, làm cho họ tiên cảm, và đã trao phó cho họ đặc tính vô tận và vĩnh cửu của đà vươn làm cho họ được nâng nhắc lên chính đà vươn của Chúa Ba ngôi, của chính Chúa Con, có thể yêu thương đến cùng (Ga 13,1). Ðà vươn này được đặc trưng bằng việc vâng phục hổ tương, nơi đó không còn có bản năng chế ngự (Ep 5,21). Chính Chúa Kitô đã quì gối trước các môn đệ của mình, như là người tôi tớ để rửa chân cho họ trước khi đổ máu mình cho chính họ.

Hôn nhân diễn tả cách bí tích tình yêu hổ tương của các Ngôi vị thần linh, tình yêu được chia sẻ cho con người bởi Thánh Thần Ðức Giêsu. Hôn nhân hướng về sự phó thác  hoàn toàn mỗi người trong người khác, và của hai người cùng với nhau trong hoa trái của sự kết hiệp của họ, được đón nhận như là hồng ân mời gọi một hồng ân luôn luôn lớn hơn nữa: hai người  chồng vợ không thuộc về nhau, họ được một luồng thác tình yêu trào vọt từ Trái Tim Thiên Chúa xuyên qua họ để kết hiệp họ vào việc sinh hạ vĩnh cửu cho đời sống luôn mới mẻ. Hôn nhân là một đà nhún mà Chúa Kitô đến để mạc khải cho chúng ta biết là Người phải đưa chúng ta tới chính trái tim của Thiên Chúa Ba ngôi.

Tình yêu và sự phong phú, trong hôn nhân mà chúng ta nhận biết, đưa chúng ta tới sự sẵn sàng thiết yếu của Trinh nữ Nazarét, được thông truyền cho Giuse, đoạn cho người môn đệ mà Chúa Giêsu yêu mến. Tất cả tình yêu của người, tất cả sự phong phú của người được ký thác cho người trong từng giây phút bởi Thiên Chúa. Như thế, trên trời, Thiên Chúa sẽ chỉ là nguồn và chân trời của sự sung mãn hạnh phúc của chúng ta. Người khác sẽ là điểm vượt qua của vô tận.

Như thế, nhờ Maria, chúng ta học biết vượt qua viễn tượng  sự chết mà tình yêu đẹp nhất, hậu duệ đông đảo nhất không thể không thấy vào lúc cuối cùng. Ðấng vĩnh cửu được trao ban vào tâm hồn được giải thoát khỏi mọi sợ hãi và mọi ghen tương, khỏi mọi ước muốn xấu, ngăn cản tâm hồn đón nhận Hồng ân Thiên Chúa. Ðức tin của Maria khai mở những cửa vào Ân sủng: Vinh quang Thiên Chúa biểu lộ nơi con người Sống động.

Thánh Irênê nhấn mạnh vai trò cá nhân của Maria trên con đường này. Ðó là điều được ký thác cho mọi người, dù ơn gọi của họ có là gì, đó là sự sinh hạ của Con Thiên Chúa: tự để chính mình và tham dự vào sự sinh hạ và lớn lên của Chúa Giêsu trong tâm hồn và trong cộng đoàn các anh em. Hôn nhân và độc thân, trên điểm này, đều bổ túc cho nhau: hôn nhân giữ cho khỏi bốc hơi trong trừu tượng; độc thân đưa đến sự sẵn sàng của mầu nhiệm Vượt qua vĩnh cửu khi mà chỉ có Thiên Chúa, bằng một cách hoàn toàn trong suốt, chia sẻ cho mọi người và cho mỗi người sự phong phú của Tình yêu của người. Như thế phải vượt qua luận lý của sự chết khi mà cuối cùng thì sự chết chiến thắng những đà vươn đẹp để nhất của đời sống, tới một luận lý khác, khi mà sự chết trở nên cuộc Vượt qua khai mở thường hằng tới Hồng ân Thiên Chúa. Maria, như thánh Irênê nói, trao hiến cho chúng ta mô hình và là nơi thực sự, khi mà Thiên Chúa thực hiện sự chiến thắng quyết định của tình yêu và sự sống.

Tình yêu và sự phong phú, như được sống trên thế giới đầy tội lỗi này, tạo nên bí tích của một thực tại vĩnh cửu mà chúng chỉ là phác hoạ. Nơi Maria, Thiên Chúa thực hiện việc vượt qua từ dấu chỉ tới thực tại. Trong thân mình được trao hiến của người trinh nữ, sẵn sàng hoàn toàn, Chúa Cha cử hành sự sinh hạ vĩnh cửu của Người Con một duy nhất bởi quyền năng Thánh Thần. Nhờ mẹ, nhân tính tham dự vào tình yêu phong phú của Ba ngôi: trong đức tin của Maria, thế giới khai mở cho Ân sủng Thiên Chúa. Người là Mẹ những tín hữu, của tất cả những cây mới mà Chúa Cha kêu gọi một cách mầu nhiệm sống sự sống của người Con duy nhất; mẹ là người mẹ của tạo thành mới, nơi đó Chúa Cha thúc đẩy và nhìn nhận những nét của người Con của mình, người chiến thắng tội lỗi và sự chết.

Với Maria, chu kỳ bất tận của những việc sinh hạ dẫn tới cái chết đã bị cắt đứt cách quyết định, bởi vị mẹ là nơi hoàn toàn được trao hiến cho công trình của Thánh Thần. Chúa Giêsu, Ađam mới được biểu lộ khi chịu phép rửa ngụp lặn quyền năng thần linh của người trong nhân tính của chúng ta, đã có thể được Thiên Chúa kéo ra từ Evà mới, vâng phục với hơi thở của Thánh Thần. Sự vâng phục này dẫn Maria tới thập giá, nơi chúng ta khám phá bí mật của tiếng thưa vâng của mẹ, được kín múc nơi cạnh sườn của Con mẹ và từ nơi hôn phu của mẹ, Ðấng phó thác Thánh Thần, nước và máu.

Không phải là vô tình mà chúng ta nhận được Hồng ân Thiên Chúa qua Maria, và rằng trong những Tin mừng thời thơ ấu, Maria đón nhận Thánh Thần này vốn chỉ thuộc về Thiên Chúa, về Con của Người. Thiên Chúa trao hiến bởi nhân tính của chúng ta, người thực hiện việc làm cho chúng ta tham dự vào sự phong phú của tình yêu. Maria là chứng nhân và là người tiền phong của sự thành tựu này, nhờ đó chúng ta phải được kết hợp.

Như thế, Maria vượt qua cách vô hạn những giới hạn của Giao ước thứ nhất: trong lòng mẹ, Thiên Chúa và con người hiệp nhất với nhau, mẹ là Sion mới, dân tộc mới và tạo thành mới. Ðồng thời, Con của Mẹ, Lời của Cha, muốn thông truyền Thánh Thần của Cha nhờ mẹ cho mọi người đón nhận Thánh Thần bởi đức tin. Chúa Con, nhờ Maria, lên đường tới nhà Elizabét và thầy cả Zakharia: Israel nhảy mừng và lời tiên tri lại vang lên. Trong ngày Hiện xuống, mọi dân tộc được qui tụ tại Giêrusalem sẽ được nghe Tin mừng. Những lời hứa cho Abraham, được hát lên trong kinh Magnificat, được hoàn tất nhờ lời cầu nguyện và nhờ đức tin của Maria.

Như thế tất cả Giáo hội được đón nhận Thánh Thần nơi Maria. Và Giáo hội có thể nhận ra nơi Maria mô hình và là nơi suối nguồn của mình. Chúng ta tái sinh trong Giáo hội nhờ vào đức tin của Maria, một mình ở dưới chân thập giá: và với mẹ mà Chúa Giêsu đã có thể phó thác chúng ta. Ðức tin này chính là hoa trái của cái nhìn yêu thương của Thiên Chúa nhìn thấy nơi mẹ không hề có cản trở nào. Maria là nơi mà loài thụ tạo được làm cho nên trong suốt đối với tình yêu và sự phong phú của Thiên Chúa: mẹ là nơi mà Thiên Chúa và nhân loại chỉ là một xác thịt duy nhất, một Thánh Thần duy nhất, để sinh chúng ta vào đời sống của Con Thiên Chúa. Mẹ là mẹ và là trung gian, là thụ tạo đã hoàn toàn tận hiến chính mình để được tràn đầy ân sủng và là Ðời sống của Thiên Chúa.

Trong sách Khải huyền, Mẹ của Ðấng cứu thế là người nữ được tô điểm bằng mười hai sao sáng, nữ hoàng của mười hai chi tộc Israel mới, người nữ bị hành hạ bởi những đau khổ của việc sinh hạ: mẹ là chứng nhân sống động vừa của chiến thắng vừa của cái giá phải trả. Con rắn xưa của sách Sáng thế không còn làm gì được trước sự tin tưởng mạnh mẽ của mẹ, nó chỉ còn có cách là gia tăng những đau khổ cho những tín hữu và như thế càng làm cho họ được phần thưởng trong tình yêu. Người nữ này, Sion-Gíáo hội, được nhận ra nơi Maria, có thể khai mào, gần bên Ðức Giêsu, viễn tượng của Giờ của người và khởi điểm của sứ vụ của người. Người vẫn chưa thực hiện dấu chỉ thứ nhất của người, mẹ cũng chưa hề thấy phép lạ nào nhưng mẹ trình bày cho Con những nhu cầu của loài người, và cho loài người Lời Thiên Chúa.

Dưới chân thập giá, Maria được Chúa Giêsu gọi là “bà” như ở tiệc cưới Cana,mẹ đảm nhận vai trò của Sion, mẹ của cộng đoàn thời cuối cùng, tức là Giáo hội (Is 66,7-14): mẹ được trao phó cho người môn đệ là người nhận ra nơi mẹ là gương mẫu của đức tin và những hoa trái đầu mùa của những người tín hữu đón nhận đời sống mới. Người môn đệ sẽ phải thực sự sinh lại, và việc sinh lại này không phải không kèm theo đau khổ, bởi vì tình yêu gặp phải sự kháng cự của tội lỗi. Nhưng những đau khổ của Calvê được nhắc đến trong sách Khải huyền bởi những đau khổ của người nữ: một lần nữa, nhân loại khám phá thấy nơi đây là mình phải tham dự trong đức tin và trong nhẫn nại vào sự sinh hạ của chính mình.

Ðức tin của Maria khai mào đức tin các môn đệ là những người trong niềm vui đón nhận Ân sủng, đã đặt vào thế giới người Con Thiên Chúa, mở ra cho người con đường của các tâm hồn, từ Giêrusalem tới mút cùng trái đất. Ðức tin của Maria cũng khai mở sự thương khó của các môn đệ là những người mà trong đau khổ của sự từ khước của con người tự để chính mình được đâm thâu bởi lưỡi gươm và nhìn thấy tâm tư thầm kín của nhiều tâm hồn được soi sáng: những người này nhận lãnh Hồng ân Thiên Chúa trong xác thể, còn những người khác thì càng tách rời, bị giam cầm trong sự kiêu hãnh của mình, trong những ước muốn xấu xa của mình. Nhưng nơi Maria, sự phục sinh của Chúa Kitô đã chiếu sang loài thụ tạo và đời sống các tín hữu được che dấu nơi Ðức Kitô trong Thiên Chúa.

Sách tham khảo:

  • Laurentin, Cours Traité sur la Vierge marie, Paris, Lethielleux, 5è ed., 1968.
  • Laurentin, Marie, l’Eglise et le Sacerdoce (2 tomes), Paris, 1952-1953.
  • Etudes sur la Sainte Vierge, sous la direction de H. du Manoir (8 tomes), Paris, Desclée, 1984.
  • Mc Hugh, La Mère de Jésus dans le Nouveau Testament, Paris, Cerf, 1977.
  • de la Potterie, Marie dans le Mystère de l’Alliance, Paris, Desclée, 1988.
  • Congar, Le Christ, Marie et l’Eglise, DDB, 1955.
  • Bouyer, Le Trône de la Sagesse, Paris, Cerf, 1957.
  • Rahner, Marie mère du Seigneur, Ed. de l’Orante, 1960.
  • J.Nicolas, TheotokosLe Mystère de Marie, Paris, Desclée, 1965.
  • Rouet, Marie, Paris, Centurion, 1975.
  • Thurian, Marie Mère du Seigneur, Figures de l’Eglise, Paris, Cerf, 1980.
  • Ratzinger – H.U.von Balthasar, Marie première Eglise, Paris, Mediaspaul, 1981.
  • U. von Balthasar, Marie pour aujourd’hui, Paris, Nouvelle Cité 1988.

 

[1] Xem R. Laurentin, La Vierge Marie après la promulgation du texte conciliaire : Concilium n.8 (1966)141-145.

[2] Piô XII, Thông điệp Humani Generis, AAS 1950, 578)

[3] Xem J. Pintard, Marie dans l’Eglise divisée. Manoir I, p.675-693 ; Thomas A. O’meara Op. Mary in protestant and catholic theology (1966) ; Jerome Hamer Op. Marie et le protestantisme à partir du dialogue œcuménique, Manoir V, p. 983-1006.

[4] Xem A. Dillenschneider, le principe premier d’une théologie mariale organique (1956) ; Karl Rahner, trong RSR 1954, 481-522 ; Manoir VI, 299-365 (G. de Broglie). R. Laurentin, Le problème initial de méthodologie mariale, Manoir I, 695-706.

[5] Sự thinh lặng của trái đất khi Ngày của Thiên Chúa biểu lộ (Ha 2,20; So 1,7; Za 2,17).

[6] R. Laurentin, Court Traité sur la Vierge Marie, Lethielleux, 5è ed. Paris , trg 147.

Comments are closed.